Trong nhiều thập kỷ, khoảng 50% sản lượng tôm sau thu hoạch – chủ yếu là phần đầu và vỏ – bị coi là rác thải công nghiệp, phải bán rẻ làm phân bón, đem chôn lấp hoặc đốt bỏ, gây tốn kém chi phí và áp lực nghiêm trọng cho môi trường. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các công nghệ chế biến sâu hiện đại đang định hình lại toàn bộ bức tranh này. Từ những phụ phẩm bỏ đi, ngành thủy sản Việt Nam đang từng bước biến "rác thải" thành nguồn nguyên liệu sinh học cao cấp có giá trị thương mại hàng tỷ USD.

Theo dữ liệu từ các nghiên cứu chuyên ngành thủy sản, tổng lượng phụ phẩm phát sinh từ các nhóm thủy sản chính tại Việt Nam hiện đã vượt mốc 1 triệu tấn/năm. Trong đó, riêng phụ phẩm cá tra chiếm khoảng 250.000 tấn, tôm chiếm hơn 100.000 tấn và cá ngừ khoảng 17.800 tấn, phần còn lại đến từ mực, cua và hải sản khác.
Nếu chỉ dừng lại ở dạng thô hoặc bán cho các mục đích giá trị thấp như làm thức ăn chăn nuôi truyền thống, toàn bộ nguồn nguyên liệu khổng lồ này chỉ thu về khoảng 150 triệu USD/năm. Tuy nhiên, nếu được đưa vào chuỗi chế biến tuần hoàn để chiết xuất các hợp chất sinh học cao cấp như peptide, collagen, chitin, chitosan hay omega-3, giá trị kinh tế thu về có thể tăng gấp 20 lần, vượt mốc 3 tỷ USD.
Xét ở quy mô toàn ngành nông nghiệp, lượng phụ phẩm phát sinh từ vỏ trấu, vỏ cà phê, bã mía, bã đậu nành... đạt con số khổng lồ hơn 160 triệu tấn/năm. Với giá trị thô hiện tại ước tính 2 tỷ USD, việc chuyển hóa bài bản thành các dòng sản phẩm sinh học mới có thể nâng quy mô toàn ngành lên gấp 5 lần, chạm ngưỡng 10 tỷ USD.
Tại Diễn đàn Đối tác công tư thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tại Cần Thơ mới đây, bà Trần Đào Hồng Ngọc, Giám đốc Kinh doanh Công ty CP Việt Nam Food (VNF) khẳng định: Công nghệ sinh học chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên bị bỏ quên. Mỗi năm, VNF tiếp nhận và xử lý từ 35.000 đến 50.000 tấn phụ phẩm tôm. Bằng việc xây dựng quy trình chế biến khép kín, doanh nghiệp này thu hồi được: Từ 10.000 – 12.000 tấn peptide (chuỗi axit amin ngắn ứng dụng trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi cao cấp và sản phẩm chăm sóc thú cưng). Hơn 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm, phục vụ ngành chế biến gia vị, thực phẩm chức năng. 800 – 1.000 tấn Chitin và Chitosan (các hợp chất sinh học quý hiếm được ứng dụng rộng rãi trong bảo quản nông sản, mỹ phẩm, y sinh và xử lý nước thải).
Thay vì gom phụ phẩm thụ động, VNF chủ động nghiên cứu công nghệ để nâng tỷ lệ thu hồi dưỡng chất lên mức 80% (so với mức khiêm tốn 4% của phương pháp sản xuất chitin truyền thống). Lộ trình này giúp cắt giảm 60% lượng hóa chất sử dụng và tiết kiệm 70% chi phí xử lý nước thải.
Đồng quan điểm về hiệu quả kinh tế, ông Nguyễn Trung Anh - Giám đốc Nghiên cứu Phát triển và Phát triển bền vững (Tập đoàn PAN) cho biết, trung bình mỗi năm mảng chế biến tôm của tập đoàn thải ra khoảng 7.500 tấn đầu và vỏ. Nhờ bắt tay hợp tác với các đơn vị chế biến chuyên sâu, Tập đoàn PAN không những không mất chi phí xử lý chất thải mà còn tăng giá trị phụ phẩm lên gấp 5 - 7 lần, thu về thêm khoảng 15 tỷ đồng mỗi năm.


Đầu và vỏ tôm chứa chitosan là nguồn nguyên liệu cho ngành dược phẩm. Ảnh: KT
Mặc dù tiềm năng thương mại hóa phụ phẩm tôm là rất rõ ràng, thực tế hiện nay phần lớn các tập đoàn thủy sản lớn vẫn chưa thực sự mặn mà đầu tư trực tiếp vào phân khúc này.
Thách thức về thu gom và bảo quản: Sản lượng phụ phẩm toàn ngành tôm tuy lớn (trên 500.000 tấn/năm) nhưng lại phân tán rải rác ở hàng trăm cơ sở chế biến. Để chiết xuất thành các sản phẩm đạt tiêu chuẩn dùng trong thực phẩm hay y dược, đầu vỏ tôm vừa thải ra phải được bảo quản lạnh lập tức để tránh phân hủy. Việc thiếu hạ tầng logistics lạnh đồng bộ khiến chất lượng nguyên liệu đầu vào không bảo đảm.
Rủi ro ô nhiễm thứ cấp từ công nghệ cũ: Quá trình chiết xuất chitin/chitosan truyền thống đòi hỏi sử dụng lượng lớn axit và kiềm để trung hòa. Nếu công nghệ xử lý môi trường không đạt chuẩn, việc "chiết xuất được chất A lại tàn phá môi trường B" sẽ tạo ra hệ lụy nghiêm trọng hơn.
Chi phí đầu tư và bài toán thị trường: Để xây dựng một nhà máy chế biến phụ phẩm đạt chuẩn y tế hay thực phẩm cao cấp, doanh nghiệp cần nguồn vốn đầu tư hàng chục triệu USD cùng hệ thống kiểm định khắt khe. Trong khi đó, các kênh tiêu thụ quốc tế cho sản phẩm chế biến từ phụ phẩm vẫn chưa thực sự mở rộng.
Xây dựng chiến lược dài hạn cho hệ sinh thái tuần hoàn
Để giải quyết triệt để các "điểm nghẽn" này, cần có sự gắn kết chặt chẽ theo mô hình "4 nhà": Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Người chăn nuôi.
Về phía Nhà nước, cần hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi thực chất hơn. Dù đã có Nghị định 98/2018/NĐ-CP về liên kết chuỗi hay Nghị quyết 48/NQ-CP về giảm tổn thất sau thu hoạch, ngành nông nghiệp vẫn thiếu các cơ chế "cầu nối" hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để xây dựng trung tâm thu gom phụ phẩm tập trung.
Về phía viện, trường và tổ chức quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao các công nghệ vi sinh, công nghệ enzym tiên tiến giúp phân tách dưỡng chất an toàn, không gây ô nhiễm thứ cấp.
Về phía cơ quan quản lý, ông Trần Đình Luân Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh, thời gian tới ngành thủy sản sẽ đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của toàn chuỗi giá trị. Việc coi phụ phẩm là một phần của sản phẩm chính không chỉ giúp người nuôi tôm và doanh nghiệp tăng lợi nhuận, mà còn là tiêu chí bắt buộc để đáp ứng các tiêu chuẩn tăng trưởng xanh và giảm phát thải carbon từ các thị trường nhập khẩu khó tính như EU, Mỹ.
Kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu mang tính tự nguyện mà đã trở thành năng lực cạnh tranh bắt buộc của ngành tôm Việt Nam. Khi những rào cản về hạ tầng thu gom và công nghệ được tháo gỡ, chuỗi giá trị phụ phẩm tôm hoàn toàn có thể trở thành "mỏ vàng" mới, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững và hiện đại.