Trong bức tranh cải cách chung đó, chăn nuôi và thú y là lĩnh vực nhận được nhiều góp ý sâu về kỹ thuật quản lý. Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An ( đoàn Đồng Nai) nêu bốn vấn đề mang tính hệ thống, không dừng ở việc cắt bớt thủ tục mà chỉ ra ranh giới giữa “biết” và “làm chủ” trong quản lý nhà nước: một ranh giới cũng là mối bận tâm chung của nhiều đại biểu khác tại nghị trường.

Đại biểu Trịnh Xuân An (tỉnh Đồng Nai) nêu ý kiến tại Hội trường - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
1. Nắm được tổng đàn không có nghĩa là điều tiết được thị trường
Pháp luật hiện hành đã có công cụ kê khai, cấp phép theo quy mô trang trại tại các Điều 52-55, và dự thảo tiếp tục phân cấp mạnh hơn cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh tại Điều 58. Cơ quan soạn thảo kỳ vọng việc kê khai sẽ giúp nắm số lượng đàn vật nuôi để kiểm soát cung - cầu. Nhưng theo đại biểu Trịnh Xuân An, đây là hai việc khác nhau về bản chất: biết tổng đàn bao nhiêu không đồng nghĩa có công cụ can thiệp khi tổng năng lực sản xuất của một ngành hàng hay một vùng vượt xa nhu cầu thị trường. Các quy định hiện nay chủ yếu quản lý từng cơ sở riêng lẻ, chưa đủ công cụ ở tầm ngành hàng và vùng.
Đây chính là gốc rễ của vòng xoáy quen thuộc trong ngành chăn nuôi Việt Nam: mở rộng đàn khi giá tăng, thu hẹp sản xuất khi giá giảm, khiến cả người chăn nuôi lẫn cả ngành hàng khó phát triển bền vững. Để xử lý tận gốc, đại biểu đề xuất luật hóa nguyên tắc quản lý, điều tiết năng lực sản xuất chăn nuôi dựa trên dữ liệu, dự báo và cân đối cung - cầu, theo ba cấp độ ứng phó:
Cách tiếp cận phân tầng này, theo đại biểu, tương đồng với kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan. Đi cùng đó là bài toán quy hoạch đất cho chăn nuôi công nghệ cao: cho phép khai thác ngay quỹ đất đã đăng ký hoặc có chủ trương dự án, đồng thời tính toán không gian vùng miền, tận dụng lợi thế đất đai của Tây Nguyên và Tây Nam Bộ cho các mô hình quy mô lớn. Thông điệp cốt lõi: Nhà nước cần công cụ điều tiết từ sớm, thay vì xử lý hậu quả khi thị trường đã dư thừa nguồn cung - đồng hướng với yêu cầu chung mà Ủy ban thẩm tra đặt ra là cải cách phải gắn với hạ tầng số, liên thông dữ liệu và cơ chế giám sát thống nhất giữa các bộ, ngành.
2. Một điều kiện đã đạt thì không đánh giá lại
Dự thảo đã sửa Điều 33 theo hướng doanh nghiệp tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi, và sửa Điều 39 về cấp, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất. Đại biểu Trịnh Xuân An đồng tình với định hướng này nhưng đề nghị đi xa hơn: một điều kiện đã được đánh giá đạt yêu cầu thì không nên đánh giá lại. Cụ thể, cơ sở đã có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi khi chuyển sang sản xuất thức ăn thủy sản (và ngược lại) thì các điều kiện tương đồng không cần đánh giá lại từ đầu; cơ sở đã đạt GMP trong sản xuất thuốc thú y chỉ cần đánh giá bổ sung những điều kiện đặc thù mà GMP chưa bao phủ. Với cơ sở đã áp dụng GMP, HACCP, FAMI-QS hoặc hệ thống tương đương, ông đề nghị miễn hoặc đơn giản hóa đánh giá, chuyển trọng tâm sang hậu kiểm và quản lý rủi ro.
Đề xuất này không phải ý kiến đơn lẻ.
Tại phiên thảo luận toàn thể chiều 12/8, đại biểu Lê Minh Nam (đoàn Cần Thơ) chỉ ra cần tận dụng tối đa khả năng số hóa và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính. Thay vì yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp giấy tờ, cơ quan nhà nước nên chủ động khai thác dữ liệu để giải quyết. “Nếu xác định được thủ tục, điều kiện có thể cắt giảm hoặc kiểm soát được rủi ro thì cắt bỏ sớm ngày nào sẽ giúp giảm bớt gánh nặng tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp ngày đó”, đại biểu Lê Minh Nam nêu. Đại biểu Nam cho rằng vẫn còn dư địa để tiếp tục cắt giảm ngay trong dự án luật, nhất là trong bối cảnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, số hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước đang được đẩy mạnh. Rà soát xem liệu có thể cấp chứng nhận điện tử một lần, tích hợp cơ sở dữ liệu đối với Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Điều 39 Luật Chăn nuôi. Đây là minh chứng cho thấy nguyên tắc “không đánh giá lại điều kiện đã đạt” hoàn toàn khả thi về kỹ thuật, nếu hạ tầng dữ liệu được kết nối đồng bộ.

Đại biểu Lê Minh Nam (Đoàn Cần Thơ) nhấn mạnh, tận dụng tối đa khả năng số hóa và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Ảnh: VPQH
Song, chuyển mạnh sang tự công bố cũng cần đi cùng cơ chế kiểm soát. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (đoàn Vĩnh Long) — người đúc kết ba định hướng xuyên suốt của dự thảo luật là đẩy mạnh phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm bằng cơ chế tự công bố, và kéo dài thời hạn hiệu lực, đơn giản hóa gia hạn nhiều loại giấy phép, giấy chứng nhận. Đây là những cải cách thực chất, có ý nghĩa thiết thực với các địa phương nông nghiệp, bởi cắt giảm thủ tục và chi phí tuân thủ không chỉ giải phóng nguồn lực cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản. Nhưng theo bà, tinh thần xuyên suốt phải là “cởi trói nhưng không buông lỏng, tạo thuận lợi nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro”. Đặc biệt, khi chuyển từ tiền kiểm sang tự công bố và hậu kiểm đối với thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, những vật tư tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng nông sản và sức khỏe cộng đồng, bà đề nghị quy định rõ trách nhiệm, chế tài đủ sức răn đe với trường hợp tự công bố sai sự thật; bố trí nguồn lực cho hậu kiểm; thiết lập cơ chế truy xuất nguồn gốc và công khai thông tin tự công bố trên cổng thông tin điện tử để người dân, hiệp hội cùng giám sát.

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn Vĩnh Long) đề nghị quy định tạo thuận lợi nhưng vẫn phải kiểm soát được rủi ro. Ảnh: VPQH
Đặt cạnh nhau, ba tiếng nói này bổ sung cho nhau thành một khung cải cách hoàn chỉnh: Đại biểu Trịnh Xuân An chỉ ra nguyên tắc (không đánh giá lại điều kiện đã đạt), đại biểu Lê Minh Nam chỉ ra công cụ (dữ liệu liên thông, chứng nhận điện tử), còn đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi chỉ ra giới hạn an toàn (trách nhiệm giải trình và hậu kiểm thực chất đi kèm). Báo cáo tiếp thu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã nhắc đến cơ chế thừa nhận lẫn nhau, thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp; vấn đề, theo đại biểu Trịnh Xuân An, là nguyên tắc này cần được luật hóa trực tiếp tại Điều 38, Điều 39 và giao Chính phủ quy định chi tiết, thay vì chỉ dừng ở định hướng chính sách.
3. Mật độ chăn nuôi: hết thời chỉ tính bằng héc-ta
Điều 53 Luật Chăn nuôi hiện quản lý mật độ theo số đơn vị vật nuôi trên một héc-ta đất nông nghiệp — phù hợp với mô hình truyền thống, nhưng khi chăn nuôi công nghệ cao, đặc biệt mô hình nhiều tầng, phát triển, một diện tích đất không lớn vẫn có thể tạo ra diện tích sàn và năng lực sản xuất rất lớn. Chỉ lấy diện tích đất làm mẫu số sẽ không phản ánh đúng tác động thực tế của cơ sở đến môi trường xung quanh.
Đại biểu Trịnh Xuân An không đề nghị bỏ tiêu chí diện tích đất, mà đề xuất bổ sung khái niệm sức chịu tải thực tế làm căn cứ quản lý mật độ, trong đó diện tích đất chỉ là một trong nhiều tiêu chí, cùng với tổng quy mô đàn, công nghệ chuồng trại, năng lực xử lý chất thải và phát thải, an toàn sinh học, khoảng cách an toàn và sức chịu tải môi trường. Luật chỉ nên quy định nguyên tắc, phương pháp tính cụ thể giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng quy định: vừa quản lý chặt chẽ, vừa mở đường cho chăn nuôi công nghệ cao.
Việc trao thẩm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận và áp dụng phương pháp tính mật độ mới này chủ yếu đặt trên vai Chủ tịch UBND cấp tỉnh, đúng như hướng phân quyền chung của dự thảo Luật. Đây cũng là điểm đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi lưu ý riêng: phân cấp mạnh hơn cho địa phương phải đi cùng bảo đảm nguồn nhân lực chuyên môn, trang thiết bị, đào tạo và hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời, đồng thời xây dựng quy trình, tiêu chuẩn quốc gia thống nhất để tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau, gây bất bình đẳng hoặc phát sinh cơ chế xin - cho. Nói cách khác, một phương pháp tính mật độ dựa trên sức chịu tải dù đúng về nguyên tắc vẫn cần một bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất trên cả nước để không trở thành nguồn phát sinh tùy tiện ở cấp thực thi.
4. Vắc-xin, thuốc thú y ngoại nhập: đừng để nguyên tắc mắc kẹt ở cấp thông tư
Dự thảo đã sửa khoản 1 Điều 101 Luật Thú y về kiểm nghiệm thuốc thú y. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng thông tư theo hướng miễn khảo nghiệm với một số thuốc thú y, kể cả vắc-xin nhập khẩu đã được phép lưu hành tại các quốc gia, khu vực có hệ thống quản lý tiên tiến: bước cải cách được đại biểu Trịnh Xuân An đánh giá tích cực. Song ông cho rằng một nguyên tắc quan trọng như vậy không nên chỉ dừng ở cấp thông tư, vốn có thể thay đổi và thiếu tính ổn định pháp lý.
Đề xuất là bổ sung ngay trong Luật Thú y nguyên tắc công nhận, thừa nhận hoặc tham chiếu kết quả đánh giá, kiểm nghiệm, khảo nghiệm của cơ quan quản lý hoặc tổ chức đánh giá nước ngoài có năng lực, đối với thuốc thú y và vắc-xin đã được cấp phép lưu hành; giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng quy định tiêu chí quốc gia được thừa nhận, cơ quan đánh giá được công nhận, phạm vi công nhận và những trường hợp vẫn phải đánh giá, khảo nghiệm bổ sung tại Việt Nam. Cách làm này vừa rút ngắn thời gian tiếp cận thuốc, vắc-xin mới, giảm chi phí cho doanh nghiệp, vừa giữ được yêu cầu quản lý và an toàn dịch bệnh.
5. Cởi trói nhưng không buông lỏng
Bốn kiến nghị của đại biểu Trịnh Xuân An cùng hướng đến một sự dịch chuyển tư duy quản lý: những gì thị trường tự điều tiết được thì để thị trường làm; những gì đã được đánh giá đạt chuẩn thì không bắt doanh nghiệp làm lại; Nhà nước tập trung vào dữ liệu, tiêu chuẩn, quản lý rủi ro và hậu kiểm thay vì kiểm soát hành chính từng khâu. Đó cũng chính là tinh thần mà đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi gói gọn trong một câu: cởi trói nhưng không buông lỏng, tạo thuận lợi nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro. Nhiều đại biểu khác tại nghị trường cũng thống nhất bốn nguyên tắc đi kèm: giảm chi phí tuân thủ nhưng không giảm hiệu lực quản lý; cắt tiền kiểm phải đi cùng tăng hậu kiểm; giảm giấy tờ phải đi cùng quản lý bằng dữ liệu; và phân quyền mạnh hơn cho địa phương phải đi cùng cơ chế kiểm soát nguồn lực, kiểm soát rủi ro tốt hơn.