Chín tháng năm 2026, GDP tăng 9,01%, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,3% và kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 888 tỷ USD. Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Như So, phía sau bức tranh sáng ấy là những tín hiệu cần theo dõi. Một trong những kết quả nổi bật của công tác điều hành chính sách tài khóa năm 2026 là thu ngân sách nhà nước đạt mức tăng cao và vượt dự toán lớn. Theo Báo cáo 918/BC-CP, tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 2.187 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Cả năm 2026, tổng thu ngân sách ước đạt 3.055,7 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 526,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 20,8%. Điều đáng lưu ý là trong cơ cấu thu, danh mục các khoản thu về nhà, đất chiếm khoảng 25% thu nội địa, cho thấy nguồn thu ngân sách còn phụ thuộc đáng kể vào đất đai và các khoản thu mang tính thời điểm (dầu thô, các khoản cổ tức, lợi nhuận, thu hồi vốn nhà nước…), thay vì được đảm bảo bằng sự tăng trưởng ổn định của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế đã chuyển sang nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong đó 94,1% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, cho thấy mức phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện bên ngoài. Cùng lúc, hơn 172 nghìn doanh nghiệp đã rời thị trường, trong khi mục tiêu GDP cả năm từ 10% trở lên đòi hỏi quý IV phải tăng khoảng 12,5%.
Từ đó, đại biểu chuyển trọng tâm từ quy mô sang chất lượng. Điều cần hỏi không phải là huy động được bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực ấy có được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và đóng góp cho tăng trưởng dài hạn hay không.

Tín dụng: Tăng về lượng, nghẹt về chất
Đến ngày 3/9/2026, dư nợ tín dụng đạt khoảng 20,45 triệu tỷ đồng, tăng 9,98% so với cuối năm 2025. Nhưng lãi suất cho vay bình quân ở các giao dịch mới đã lên 9,12%/năm, tăng 1,03 điểm phần trăm, và nhiều khoản vay doanh nghiệp đã chạm mức 16-18%/năm. Với ngành sản xuất, nơi vốn quay vòng chậm và biên lợi nhuận mỏng, chi phí vốn như vậy có thể nuốt trọn phần lãi. Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn vướng thêm rào cản tài sản thế chấp, trong khi chỉ số ICOR vẫn ở mức cao, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với lượng vốn bơm ra.
Để khơi thông dòng vốn, đại biểu đề xuất bốn hướng đi nối tiếp nhau. Trước hết là cải cách khâu thẩm định, đơn giản hóa hồ sơ và kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, lịch sử tín dụng, để ngân hàng đánh giá doanh nghiệp dựa vào dòng tiền, đơn hàng và hợp đồng đầu ra thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đồng thời nêu rõ điều kiện chưa đáp ứng khi từ chối cho vay. Với những doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu tài sản bảo đảm, Nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo lãnh có mục tiêu và chia sẻ một phần rủi ro với ngân hàng, bởi Quỹ bảo lãnh theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP chưa thật sự phát huy vai trò “cầu nối”, ưu tiên các lĩnh vực có sức lan tỏa như chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất xuất khẩu và nông nghiệp công nghệ cao. Khi dòng vốn được đưa đúng địa chỉ, doanh nghiệp có thể duy trì sản xuất, bảo vệ việc làm và phục hồi tăng trưởng thay vì bị đào thải chỉ vì thiếu thanh khoản ngắn hạn. Khi doanh nghiệp đã vướng nợ nhưng còn năng lực phục hồi, cơ chế chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần cần được hoàn thiện để vừa giảm áp lực nợ, vừa bảo toàn giá trị sản xuất, thay vì chỉ xử lý tài sản sau khi khoản vay phát sinh vấn đề. Cuối cùng, với các dự án xanh, cần sớm ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất 2% gắn với tiêu chuẩn ESG, ưu tiên những dự án đồng thời giảm chi phí sản xuất, giảm rủi ro khí hậu và nâng cao năng suất.

Chứng khoán: Kênh vốn dài hạn chưa phát huy hết vai trò
Một nền kinh tế quá dựa vào ngân hàng sẽ dễ tổn thương mỗi khi lãi suất đi lên, vì vậy thị trường chứng khoán cần trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn đủ mạnh để chia sẻ gánh nặng ấy. Việc Việt Nam được chuyển sang nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ ngày 21/9/2026, là dấu mốc quan trọng. Song thực tế chưa như kỳ vọng: khối ngoại bán ròng khoảng 135.000 tỷ đồng năm 2025 và tiếp tục bán ròng khoảng 98.300 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2026, trong khi thanh khoản suy giảm mạnh. Khi kênh vốn cổ phần tắc nghẽn, doanh nghiệp càng phải quay về với tín dụng ngân hàng vốn đang đắt đỏ.
Vì thế, đại biểu đề nghị cơ quan quản lý đánh giá và lượng hóa đầy đủ các yếu tố quyết định niềm tin của nhà đầu tư, từ minh bạch thông tin, quản trị doanh nghiệp niêm yết, giới hạn sở hữu nước ngoài, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng cho đến hạ tầng giao dịch và cơ chế thanh toán. Trên nền đó, cần có lộ trình rõ ràng để kết quả nâng hạng trở thành lợi thế thực chất trong huy động vốn dài hạn.
Thôi “trải thảm đỏ”, hãy dệt chuỗi giá trị
Xuyên suốt bài phát biểu là một tư duy nhất quán: nguồn lực, dù là ngân sách, tín dụng hay ưu đãi đầu tư, đều phải tạo ra năng lực sản xuất mới. Tư duy ấy trước hết thể hiện ở đòi hỏi về chất lượng nguồn thu. Thu ngân sách năm 2026 ước vượt dự toán 526,3 nghìn tỷ đồng, nhưng qua tính toán từ Báo cáo 918/BC-CP, thu nội địa từ sản xuất, kinh doanh chỉ chiếm khoảng 51,4% phần vượt thu, còn tiền sử dụng đất, dầu thô, cổ tức và thu hồi vốn nhà nước chiếm khoảng 42,7%. Đây là những khoản mang tính thời điểm, nên đại biểu đề nghị Chính phủ bóc tách thêm nguồn thu từ các dự án, hợp đồng PPP để thấy rõ mức đóng góp ổn định của khu vực sản xuất.
Với vốn FDI đăng ký đạt trên 50,36 tỷ USD, đại biểu cho rằng đã đến lúc chấm dứt tư duy “trải thảm đỏ nhưng đứng ngoài chuỗi giá trị”. Ưu đãi cần gắn với cam kết cụ thể về tỷ lệ mua hàng từ doanh nghiệp Việt, phát triển nhà cung ứng nội địa và chuyển giao công nghệ, để mỗi dự án FDI trở thành một “hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp Việt” chứ không chỉ là một nhà máy đặt trên lãnh thổ Việt Nam. Logic ấy cũng được áp dụng cho nông nghiệp, nơi đại biểu đề xuất nâng cấp hợp tác xã kiểu mới thành doanh nghiệp của cộng đồng nông hộ, đưa quyền sử dụng đất vào góp cổ phần để nông dân trở thành cổ đông, đồng thời công nhận nhà màng, hệ thống tưới tự động là tài sản được định giá, giao dịch và thế chấp. Và với biến đổi khí hậu, vốn gây thiệt hại khoảng 1-1,5% GDP mỗi năm, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ sau thiệt hại sang khuyến khích đầu tư phòng ngừa từ trước.
Kết luận
Thông điệp xuyên suốt bài phát biểu của đại biểu Nguyễn Như So ( đoàn Bắc Ninh) là vốn phải chảy đúng địa chỉ. Tín dụng cần dễ tiếp cận và bớt đắt đỏ hơn với khu vực sản xuất, thị trường chứng khoán cần đủ sâu để chia sẻ gánh nặng với ngân hàng, và mọi ưu đãi của Nhà nước phải gắn với hiệu quả. Khi doanh nghiệp sản xuất giữ được dòng vốn, họ giữ được việc làm, đơn hàng, nguồn thu ngân sách và năng lực xuất khẩu, nền tảng của một nền kinh tế tự chủ và bền vững hơn.