Thị trường gia cầm tuần qua ghi nhận xu hướng phân hóa rõ nét. Trái ngược với diễn biến biến động nhẹ của thị trường gà giống, giá gà thịt ghi nhận sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và phân khúc; trong đó, các dòng gà đặc sản giữ giá tốt, trong khi nhóm gà ta lai to cân gặp khó khăn về đầu ra.

Trên thị trường gà giống, mức giá có sự chênh lệch tùy theo từng chủng loại, công ty cung ứng và khu vực địa lý. Nhìn chung, một số dòng gà lai ghi nhận mức giảm nhẹ, trong khi các giống gà còn lại cơ bản giữ ổn định.
Tại khu vực miền Bắc: Gà lai chọi ngắn ngày giao dịch ở mức 4.000 – 7.000 đồng/con (gà xô) và 7.000 – 8.000 đồng/con (gà trống). Dòng gà lai Đông Tảo chân to giảm nhẹ, xuống còn 5.000 – 7.000 đồng/con (gà xô) và 8.000 – 10.000 đồng/con (gà trống). Các giống gà bản địa như gà ta lò Phú Bình, Mía Sơn Tây, Mía Lạc Thủy duy trì mức 6.000 – 8.000 đồng/con. Tại các cơ sở ở Phú Xuyên (Hà Nội), giá gà lai xô dao động từ 4.000 – 6.000 đồng/con.
Gà giống thương hiệu: Dòng Mía số 1 DABACO đạt mức 10.000 đồng/con, gà J số 1 DABACO ở mức 7.000 đồng/con. Con giống từ các doanh nghiệp như Hòa Phát, 3F, Hòa Bình, Đức Minh giữ mức 6.000 – 8.000 đồng/con.
Tại miền Nam: Gà lai chọi dao động từ 6.000 – 8.000 đồng/con; riêng dòng Minh Dư 3 giữ mức 7.000 đồng/con.
Gà thịt phân hóa sâu theo phân khúc và vùng miền
Đối với thị trường gà thương phẩm, mức giá xuất chuồng thể hiện sự phân hóa rõ rệt dựa trên thời gian nuôi, quy cách chuồng trại và thói quen tiêu dùng từng địa phương.
Khu vực Bắc Bộ: Các dòng gà đặc sản và nuôi dài ngày tiếp tục nắm giữ mức giá cao nhất. Gà Mía Sơn Tây, Lạc Thủy đạt 68.000 – 72.000 đồng/kg; gà ta lò Thái Nguyên (trên 4,5 tháng tuổi) dao động từ 64.000 – 67.000 đồng/kg. Gà Mía số 1 DABACO đạt 58.000 – 60.000 đồng/kg (loại 105 ngày) và 65.000 – 67.000 đồng/kg (loại 120 ngày).
Trái lại, các dòng gà ta lai to cân, tăng trưởng nhanh rơi vào cảnh tiêu thụ chậm và giá thấp. Gà mía lai, Hồ lai to cân bán ra ở mức 45.000 – 47.000 đồng/kg (chuồng kín) và 51.000 – 55.000 đồng/kg (chuồng hở). Gà lai chọi miền Nam (trên 4 tháng tuổi) đạt 45.000 – 49.000 đồng/kg. Thấp nhất thị trường là nhóm gà trứng loại thải, chỉ đạt 31.000 – 33.000 đồng/kg đối với chuồng lồng và 35.000 – 37.000 đồng/kg đối với chuồng bệt.
Khu vực Bắc Trung Bộ: Giá các loại gà ta lai giữ nhịp ổn định. Gà lai chọi Minh Dư, Cao Khanh có giá xuất chuồng đạt 51.000 – 53.000 đồng/kg (bán buôn xe tải) và 54.000 – 57.000 đồng/kg (bán lẻ xe máy). Gà J DABACO và Ri vàng rơm (105 – 110 ngày tuổi) đạt 55.000 – 59.000 đồng/kg. Riêng tại Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, gà thịt trên 120 ngày tuổi đạt mức cao, dao động từ 61.000 – 65.000 đồng/kg.