Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Hà Nội 22°C /57%

Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
03/10/2026 10:17 (GMT +7)

Khi nông dân Ninh Bình bắt nhịp kinh tế tuần hoàn

TACN - Tỉnh Ninh Bình đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, ứng dụng công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung bền vững.

Có về Ninh Bình những ngày này mới cảm nhận hết luồng sinh khí mới đang cuộn chảy trên từng cánh đồng, trang trại. Nơi mà trước đây người dân từng chật vật với lối canh tác nhỏ lẻ, nơm nớp lo “được mùa mất giá”, thì nay, tư duy làm kinh tế nông nghiệp đã thực sự chạm đến từng nếp nhà. Nhờ biết nương vào lợi thế tự nhiên, dám đưa công nghệ hiện đại vào chuồng trại và nhạy bén chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, Ninh Bình đang đặt những viên gạch vững chắc cho các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, mở ra con đường phát triển bền vững và trù phú.

Từ hiệu quả kinh tế, mô hình nuôi gà ác đang được nhiều hộ dân ở xã Bình Lục lựa chọn, từng bước mở rộng quy mô sản xuất.

Khởi sắc từ những khát vọng làm giàu trên mảnh đất quê hương

Mọi sự chuyển mình lớn lao của nông nghiệp Ninh Bình đều bắt đầu từ những bước chân không mỏi và tư duy dám nghĩ, dám làm của người nông dân. Đứng trước những biến động thất thường của thị trường, thay vì thụ động chờ đợi sự may rủi, nhiều hộ gia đình nơi đây đã tự tìm lời giải bằng các mô hình kinh tế đầy táo bạo.

Đến phường Hồng Quang hôm nay, ít ai hình dung được vùng đại điền 32 ha xanh ngút ngàn, thẳng cánh cò bay từng là những thửa ruộng trũng ngập, bị bỏ hoang lãng phí. Bằng sự kiên trì và tầm nhìn dài hạn, anh Lại Văn Thành đã lặn lội gõ cửa hơn 300 hộ dân để thuyết phục gom đất, quy hoạch thành vùng đa canh bài bản. Trên 25 ha lúa chất lượng cao, anh đưa máy móc vào làm thay sức người từ khâu làm đất đến thu hoạch, thu về 100 tấn lúa mỗi năm.

Nhưng điều làm nên sự khác biệt đột phá chính là khu nuôi trồng thủy sản 7 ha nằm ngay kế bên. Với 100 tráng nuôi ếch thương phẩm cùng ao cá, anh Thành áp dụng chu trình kinh tế tuần hoàn: toàn bộ nguồn nước và chất thải hữu cơ giàu dinh dưỡng từ ao nuôi được xử lý kỹ thuật rồi dẫn thẳng ra ruộng lúa làm phân bón tự nhiên. Vòng tuần hoàn khép kín này vừa giúp gia đình cắt giảm chi phí phân hóa học, bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng, vừa mang về khoản lợi nhuận hơn 300 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí, đồng thời giải quyết việc làm ổn định cho nhiều lao động địa phương.

Mô hình nuôi ếch kết hợp thả cá cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với trồng lúa của gia đình anh Thành.

Cũng chọn lối đi riêng nhưng ở xã Bình Lục, gia đình bà Nguyễn Thị Chiển lại tìm thấy cơ hội làm giàu từ con gà ác sinh sản. Sau nhiều năm trăn trở với giá cám biến động và sự bấp bấp của giống gà công nghiệp truyền thống, bà Chiển mạnh dạn chuyển hướng sang nuôi 3.000 con gà ác đẻ trứng. Mỗi ngày, khoảng 1.500 quả trứng thương phẩm được xuất bán đều đặn cho thương lái và các thị trường lân cận. Nhờ có thị trường tiêu thụ riêng biệt và giá bán cao ổn định, mô hình này đem lại hiệu quả kinh tế gấp đôi so với cách nuôi trước đây, giúp gia đình có nguồn thu nhập ổn định quanh năm.

Nối tiếp làn sóng đổi mới đó, người dân xã miền núi Phú Long lại biết biến địa hình đồi rừng hiểm trở thành lợi thế phát triển nghề nuôi hươu lấy nhung. Tiêu biểu như ông Trần Văn Sang ở thôn Thống Nhất, từ cặp hươu nuôi thử nghiệm năm 2014, đến nay ông đã nhân đàn lên hơn 30 con, thu lãi ròng hơn 200 triệu đồng mỗi năm từ bán nhung và con giống. Nhìn thấy hiệu quả rõ rệt, gần 200 hộ dân trong xã đã cùng tham gia học hỏi kinh nghiệm, đưa tổng đàn hươu toàn xã lên gần 1.000 con. Với mức thu nhập từ 180–250 triệu đồng/năm cho mỗi con hươu trưởng thành, nghề nuôi hươu đã thực sự trở thành cây gậy gánh vác kinh tế, giúp nhiều hộ dân vùng đồi rừng vươn lên làm giàu.

Mạch nối chiến lược - Khi chính quyền đồng hành cùng sức dân

Hiệu quả thực tế từ những mô hình điểm tại Hồng Quang, Bình Lục hay Phú Long chính là minh chứng sống động nhất cho thấy: lựa chọn đúng đối tượng vật nuôi trên cơ sở điều kiện tự nhiên, nguồn thức ăn sẵn có và nhu cầu thị trường chính là chìa khóa để nâng cao giá trị sản xuất. Nhận diện rõ quy luật ấy, tỉnh Ninh Bình đã nhanh chóng nâng tầm các mô hình tự phát thành một chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp bài bản, dài hạn.

Năm 2025, tổng diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa hiệu quả thấp của toàn tỉnh đã đạt 434,2 ha. Bước sang năm 2026, Ninh Bình tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thích ứng với biến đổi khí hậu và tối ưu hóa thu nhập cho người dân. Trong quá trình đó, việc ưu tiên các dòng giống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao và thị trường tiêu thụ tốt đang mở ra không gian phát triển mới cho các vùng sản xuất.

Song song với việc mở rộng diện tích, Ninh Bình tập trung cải thiện mạnh mẽ cơ cấu giống vật nuôi. Tỷ lệ lợn ngoại, lợn lai ngoại và các dòng bò lai chất lượng cao như Zebu, bò 3B hiện đã chiếm trên 90% tổng đàn. Các giống đặc sản bản địa cũng được quy hoạch bảo tồn ở mức độ hợp lý nhằm giữ gìn nguồn gen quý và đa dạng hóa danh mục sản phẩm OCOP. Phương thức chăn nuôi cũng dịch chuyển rõ nét từ nông hộ nhỏ lẻ sang trang trại tập trung công nghiệp và bán công nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 2.024 trang trại chăn nuôi, trong đó có 33 trang trại quy mô lớn, 548 trang trại quy mô vừa và 34 cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh.

Bên cạnh đó, tỉnh xác định kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết. Các công nghệ xử lý chất thải như đệm lót sinh học, chế phẩm men vi sinh, hệ thống biogas HDPE và máy ép tách phân được ứng dụng rộng rãi, giúp giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm chi phí đầu vào. Cùng với sự hỗ trợ của 37 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trên địa bàn đạt tổng công suất trên 1 triệu tấn/năm, Ninh Bình đã cơ bản chủ động được nguồn cung, ổn định chất lượng dinh dưỡng cho đàn vật nuôi.

Đột phá công nghệ cao và sức mạnh từ liên kết chuỗi

Nếu định hướng đúng đắn là kim nam chỉ đường, thì ứng dụng công nghệ hiện đại và liên kết chuỗi giá trị chính là đôi cánh giúp nông nghiệp Ninh Bình bứt phá mạnh mẽ, hình thành nên các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn.

Dấu ấn đậm nét nhất của chăn nuôi công nghệ cao Ninh Bình phải kể đến Trang trại lợn thông minh tại Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp – dự án viện trợ không hoàn lại từ Chính phủ Hàn Quốc với kinh phí trên 3 triệu USD. Trang trại vận hành hoàn toàn trên nền tảng công nghệ IoT, cho phép kiểm soát tự động 24/7 các yếu tố môi trường, hệ thống cho ăn, cấp nước và giám sát sức khỏe đàn vật nuôi. Mỗi năm, cơ sở này cung cấp hàng nghìn con lợn giống sinh sản và hàng chục nghìn lợn thương phẩm chất lượng cao, đóng góp quan trọng vào công tác bảo tồn nguồn gen. Song song với đó, công nghệ thụ tinh nhân tạo trên gà giống quy mô công nghiệp cùng hệ thống giết mổ, chế biến tập trung cũng góp phần hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín.

Tính đến nay, Ninh Bình đã xây dựng được 123 chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản an toàn; trong đó có 19 chuỗi chăn nuôi chuyên sâu về thịt lợn, trứng gia cầm và vùng nuôi bò sữa tập trung được doanh nghiệp bao tiêu 100% sản phẩm. Trong hệ sinh thái liên kết này, vai trò của các bên được phân định rất rõ ràng và chặt chẽ:

Hợp tác xã và Doanh nghiệp: Đóng vai trò “đầu tàu” chủ chuỗi, chịu trách nhiệm cung ứng vật tư đầu vào, giám sát quy trình kỹ thuật, thu mua, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu nông sản an toàn.

Cơ quan quản lý nhà nước: Giữ vai trò kiến tạo, hỗ trợ tư vấn pháp lý, đào tạo kiến thức thị trường, giám sát an toàn thực phẩm và hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật cho các bên tham gia liên kết dựa trên tinh thần tự nguyện và chia sẻ lợi ích.

Từ những thửa ruộng trũng ngập còn in vết chân bấm bùn cho đến những trang trại thông minh vận hành tự động qua màn hình cảm ứng, nông nghiệp Ninh Bình đang viết tiếp câu chuyện đổi mới đầy tự hào. Sự kết hợp hài hòa giữa khát vọng làm giàu của người dân, định hướng bài bản của chính quyền và sức mạnh của công nghệ hiện đại không chỉ mang lại những mùa quả ngọt trĩu nặng, mà còn đặt nền móng vững chắc cho một vùng nông thôn hiện đại, an toàn và phát triển bền vững.

Xuân Bình