Trúng mùa, trúng giá mang lại niềm vui lớn cho nông dân, nhưng cũng đặt ra bài toán chi phí khắt khe cho các doanh nghiệp chế biến. Trước áp lực của thị trường xuất khẩu và rào cản xanh, ngành mì Tây Ninh đang đi đầu trong cuộc cách mạng chế biến sâu, biến phụ phẩm đồng ruộng thành tài nguyên giá trị cao và hạt nhựa sinh học.Tiếng cười trên đồng và bài toán vượt thoát "bẫy" nguyên liệu thô.

Nông dân Tây Ninh thu hoạch khoai mì.
Về Tây Ninh những ngày cuối vụ, người dân trên đảo Nhím, xã Dương Minh Châu đang khẩn trương thu hoạch củ mì, tranh thủ vận chuyển nông sản vào bờ trước nguy cơ mực nước hồ Dầu Tiếng tiếp tục dâng cao. Phần lớn diện tích mì trên đảo Nhím đã được thu hoạch. Tại những khu vực còn lại, không khí lao động diễn ra khẩn trương cả ngày lẫn đêm. Tiếng máy cày xình xịch nối đuôi nhau vào tận chân ruộng, tiếng cười nói giòn tan của bà con nông dân hòa cùng sắc nắng vàng ruộm. Sau nhiều mùa vụ phập phồng lo âu, niềm vui “được mùa, trúng giá” đã thực sự trở lại trên vùng đất “ thủ phủ” khoai mì của cả nước.
Đứng bên những xe mì cuồn cuộn củ vừa được cân ngay tại góc ruộng, ông Võ Văn Đáp, nông dân trồng mì trên đảo Nhím quệt vội giọt mồ hôi trên trán, rạng rỡ nói: "Chưa có năm nào nhổ mì mà cái bụng nó nhẹ nhõm như năm nay. Mấy vụ trước, cứ nhổ củ lên là thót tim lo thương lái ép giá. Vụ này mì tươi đạt 30% chữ bột được nhà máy thu mua tại chỗ với giá 4.100 - 4.200 đồng/kg. Năng suất đạt 40 - 50 tấn/ha, trừ hết chi phí vật tư, nhân công, mỗi héc-ta gia đình tôi cầm chắc trong tay khoản lãi ròng 80 triệu đồng. Làm nông mà có lời như vậy thì còn gì bằng!"
Niềm vui của ông Đáp cũng là tâm trạng chung của hàng nghìn hộ dân tại Tây Ninh. Vụ này, toàn tỉnh đã xuống giống hơn 42.000 ha. Với quy mô diện tích trên 61.000 ha mỗi năm và sản lượng hơn 2 triệu tấn, Tây Ninh không chỉ đứng hàng đầu cả nước về năng suất mà còn sở hữu hạ tầng chế biến tinh bột mì quy mô bậc nhất. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ quản trị chuỗi giá trị nông nghiệp, niềm vui trúng giá của bà con lại đặt ra một bài toán hóc húa cho các doanh nghiệp chế biến. Giá củ mì tươi tăng cao giúp nông dân ấm lòng, nhưng lại khiến các nhà máy đối mặt với áp lực chi phí đầu vào tăng vọt.
Ông Nguyễn Văn Bảnh, một nông dân dày dạn kinh nghiệm ở xã Tân Hội nhẩm tính: "Bà con nào có đất nhà thì khỏe, chứ đi thuê đất 30 triệu/ha, cộng thêm 30-40 triệu tiền phân bón, công cán thì chi phí đã ngót nghét 70 triệu đồng. Nếu chỉ trông chờ vào việc bán củ tươi cho các lò sấy thô hay xuất khẩu tinh bột thô sang các thị trường truyền thống đang ngày càng siết chặt rào cản, thì cả người trồng lẫn doanh nghiệp đều rất dễ dính vào vòng xoáy 'được giá mất mùa, được mùa mất giá'."
Rõ ràng, việc bán tinh bột thô đơn thuần đã chạm trần biên lợi nhuận. Để không bị nhấn chìm bởi sóng gió thị trường và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực, ngành mì Tây Ninh bắt buộc phải tự "cởi lỏng" chính mình bằng một tư duy hoàn toàn mới: Chuyển từ chế biến thô sang chế biến sâu, biến phụ phẩm thành tài nguyên giá trị cao.

Nông dân Tây Ninh phấn khởi thu hoạch khoai mì.
Tại Công ty Cổ phần Khoai mì Tây Ninh, những dây chuyền công nghệ tự động hóa hiện đại đang vận hành êm ru. Ít ai hình dung rằng, từ những củ mì thô ráp xù xì kéo từ dưới lòng đất lên, qua công nghệ thủy phân bằng enzyme tiên tiến, doanh nghiệp đã chiết xuất thành công dòng siro glucose chất lượng cao – nguyên liệu đầu vào không thể thiếu của các ngành công nghiệp thực phẩm, nước giải khát, bánh kẹo và dược phẩm cao cấp.
Bà Nguyễn Thanh Thúy - Giám đốc Tài chính Công ty Cổ phần Khoai mì Tây Ninh chia sẻ: "Thị trường nông sản thế giới đã thay đổi rất nhanh. Khách hàng quốc tế không còn mặn mà với sản phẩm thô sơ. Việc chuyển hướng sang sản xuất siro glucose và các sản phẩm giá trị gia tăng giúp chúng tôi thoát khỏi 'chiếc áo hẹp' của thị trường truyền thống, mở rộng tệp khách hàng phân khúc cao và chủ động được biên lợi nhuận, giảm thiểu tối đa rủi ro từ sự trồi sụt giá cả nguyên liệu."
Ở một góc độ kỹ thuật phức tạp hơn, Tập đoàn DAWU tại nhà máy Tân Trường Hưng lại chọn con đường "may đo" sản phẩm tinh bột biến tính theo từng đơn đặt hàng khắt khe. Dưới bàn tay của các chuyên gia và hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt, tinh bột mì Tây Ninh được "biến hóa" để đáp ứng chính xác từng đặc tính lý - hóa: từ tạo độ dai cho sợi mì gói, độ giòn xốp cho vỏ chả giò, há cảo đến độ sánh mịn ổn định cho các loại tương ớt xuất khẩu.
Ông Vũ Văn Thiều - Chủ tịch Tập đoàn DAWU nhấn mạnh: "Chế biến sâu không đơn thuần là việc chúng ta làm ra nhiều sản phẩm hơn, mà là năng lực kiểm soát chất lượng ở cấp độ phân tử để đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe nhất của từng khách hàng. Khi doanh nghiệp thoát khỏi áp lực cạnh tranh bằng giá của tinh bột thô, chúng tôi mới có đủ dư địa tài chính để quay trở lại nâng giá thu mua mì củ cho nông dân, tạo nên một liên kết chuỗi thực sự bền vững."
Không dừng lại ở thực phẩm, một cuộc đột phá mang tính biểu tượng cho tầm nhìn xanh đang được Tập đoàn Hùng Duy tiên phong triển khai. Đang sở hữu 6 nhà máy với tổng công suất 1.600 tấn/ngày, Hùng Duy đã rót hơn 500 tỷ đồng để xây dựng thêm nhà máy chế biến sâu công suất 200 tấn/ngày. Đặc biệt, doanh nghiệp đang khẩn trương hoàn thiện dự án sản xuất hạt nhựa sinh học từ tinh bột mì, dự kiến đi vào vận hành thương mại vào cuối năm 2026.
Khi dự án này cán đích, khoảng 90% nguyên liệu đầu vào của những hạt nhựa tự phân hủy thân thiện với môi trường sẽ đến từ chính những củ mì Tây Ninh. Đây được xem là bước nhảy vọt, đưa nông sản Việt Nam cắm cờ vào chuỗi cung ứng vật liệu mới toàn cầu.
Kinh tế tuần hoàn - "Không bỏ đi thứ gì" và tầm nhìn 2050
Có một thực tế trước đây: các nhà máy chế biến tinh bột mì từng là "điểm nóng" về ô nhiễm môi trường do lượng nước thải và bã mì phát sinh lớn. Nhưng hôm nay, tại các doanh nghiệp tiên phong ở Tây Ninh, khái niệm "chất thải" đang dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho tư duy kinh tế tuần hoàn - xem phụ phẩm là tài nguyên.
Ghé thăm hệ thống xử lý môi trường của Công ty Cổ phần Khoai mì Tây Ninh hay Công ty TNHH MTV Định Khuê, người ta không khỏi ngạc nhiên trước mô hình khép kín hoàn hảo. Toàn bộ nước thải phát sinh từ quá trình sấy rửa củ mì được dẫn vào hệ thống thu hồi khí Biogas. Lượng khí sinh học này quay trở lại làm nhiên liệu đốt trực tiếp cho lò hơi và hệ thống sấy tinh bột, giúp doanh nghiệp tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí năng lượng mỗi tháng.
Nước thải sau khi thu hồi Biogas tiếp tục đi qua hệ thống xử lý vi sinh chuẩn hóa, đạt quy chuẩn môi trường khắt khe và được quan trắc tự động 24/7 trước khi tái sử dụng hoặc xả thải. Trong khi đó, phần bã mì và lụa mì - vốn là nỗi ám ảnh về mùi hôi trước đây - nay được sấy khô, thu gom sạch sẽ để làm nguyên liệu phối trộn thức ăn chăn nuôi giá trị cao.
Bên cạnh đó, bài toán giảm phát thải carbon cũng đang được hiện thực hóa bằng những con số ấn tượng. Tập đoàn Hùng Duy đã phủ kín mái các nhà máy bằng hệ thống điện mặt trời với tổng công suất 6.328 kWp, cung cấp hơn 4.500 MWh điện sạch mỗi năm, trực tiếp cắt giảm hơn 3.000 tấn CO2 phát thải. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn cũng đã chủ động kiểm kê khí nhà kính, đánh giá "dấu chân carbon" trên từng kg sản phẩm và hướng tới chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 14067 nhằm vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của thị trường châu Âu.
Đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh đang đẩy mạnh đồng bộ việc cấp mã số vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và chuẩn hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc số.
Theo Quy hoạch định hướng đến năm 2030, Tây Ninh nâng tổng công suất chế biến mì đạt 4 - 4,5 triệu tấn củ/năm, đưa tỷ lệ sản lượng phục vụ chế biến sâu lên mức 92%. Tầm nhìn xa hơn đến năm 2050, tỉnh quyết tâm giữ ổn định diện tích canh tác từ 55.000 - 60.000 ha nhưng nâng năng suất bình quân lên trên 36 tấn/ha thông qua cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ cao đạt trên 90%.
Từ một loại cây "cứu đói" đằng sau lũy lũy làng, cây khoai mì Tây Ninh đang vươn mình mạnh mẽ, khoác lên mình tấm áo công nghệ xanh hiện đại. Bằng tư duy quản trị thông minh, sự bắt tay chiến lược giữa "Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà nước", Tây Ninh không chỉ biến phụ phẩm thành tài nguyên, mà đang kiến tạo nên một hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn bền vững, nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam trên bản đồ thương mại thế giới.