Chưa bao giờ những người gắn bó cả đời với chuồng trại, từ người nông dân nhỏ lẻ cho đến chủ chuồng quy mô hàng trăm nghìn con, lại cảm thấy chiếc ghế của mình chao đảo đến thế. Nhìn vào thị trường hiện tại, một tiếng thở dài thượt dài thượt chạy ngang qua các thủ phủ chăn nuôi lớn như Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh hay Thanh Hóa, Quảng Trị, Phú Thọ...
Người ta bảo thịt nhập giá rẻ đang "bóp chết" con heo, con gà trong nước. Điều đó đúng, nhưng chỉ là một nửa sự thật. Nửa còn lại đắng ngắt và chua chát hơn chính là việc chúng ta đang tự tay gỡ bỏ tấm lá chắn niềm tin của người tiêu dùng bằng sự phập phù của chất lượng, dịch bệnh triền miên và những mảng tối trong ngành.

Giá bán giảm, dịch bệnh kéo dài, giá thành chăn nuôi tăng cao... khiến người nuôi lao đao.
Chỉ cần dạo một vòng qua các siêu thị, cửa hàng thực phẩm hay các khu chợ đầu mối tại TP.HCM, người ta không khỏi giật mình trước mức giá của thực phẩm đông lạnh nhập khẩu. Đùi gà tỏi nhập khẩu từ Mỹ bán lẻ chỉ từ 40.000 – 50.000 đồng/kg, cánh gà khoảng 80.000 đồng/kg. Bán sỉ, giá đùi gà hay gà dai Hàn Quốc thậm chí tụt xuống ngưỡng 40.000 – 42.000 đồng/kg.
Thịt heo: Sườn non nhập từ Brazil, Nga, Đan Mạch bán lẻ chỉ 130.000 đồng/kg, ba rọi 105.000 đồng/kg, móng giò 80.000 đồng/kg. Nếu mua buôn nguyên container, giá xương cổ hay móng giò chỉ dao động quanh mức 29.000 – 35.000 đồng/kg. Mức giá ấy chỉ bằng một nửa, thậm chí một phần ba so với thịt tươi sống trong nước.
Sự lệch pha này đến từ đâu? Theo ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, chăn nuôi Việt Nam dù sở hữu lực lượng lao động giá rẻ nhưng lại rơi vào thế yếu toàn diện khi lệ thuộc tới 80–90% nguồn nguyên liệu đầu vào từ con giống, thuốc thú y, máy móc cho đến nguyên liệu sản xuất thức ăn.
Giá thức ăn chăn nuôi đã tăng vọt gần 40% trong vòng 12 năm qua, trong khi chi phí này chiếm tới 70–75% giá thành sản xuất. Mười năm trước, nuôi một con heo đạt mốc 100 kg chỉ tốn khoảng 3,5 triệu đồng. Giờ đây, con số ấy đã vọt lên 5,5 – 5,8 triệu đồng.
Trong khi giá thành sản xuất heo hơi tại Việt Nam chạm ngưỡng 55.000 – 58.000 đồng/kg (thuộc nhóm cao nhất thế giới), thì tại Brazil con số này chỉ khoảng 30.000 – 35.000 đồng/kg, còn Trung Quốc cũng đã kéo xuống mức 50.000 đồng/kg. Khi thị trường Trung Quốc dư thừa nguồn cung và đóng cửa biên giới, các tập đoàn chăn nuôi toàn cầu lập tức chuyển hướng, đổ dồn dòng thịt giá rẻ sang Việt Nam - nơi hàng rào kỹ thuật vẫn còn nhiều khoảng trống.
Tuy nhiên, giá rẻ chưa phải là đòn quyết định đẩy người nuôi heo, gà trong nước vào chân tường. Điều đáng sợ hơn cả là thái độ của người tiêu dùng nội địa đối với "thịt nóng" - vốn từng là thành trì bất khả xâm phạm của nông sản Việt. Ông Nguyễn Văn Tuế, Phó Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, thẳng thắn nhìn nhận, thịt nhập tràn vào kéo giá trong nước xuống là một lẽ, nhưng công bằng mà nói, chính chúng ta đang tự làm khó mình. Mấy tháng qua, thông tin tiêu cực dồn dập xuất hiện: từ dịch tả heo châu Phi bùng phát đến các vụ tiêm chất cấm, chất tạo nạc với quy mô lên đến hàng nghìn tấn. Niềm tin của người tiêu dùng vào thịt tươi bị giội một gáo nước lạnh.
Trước đây, thịt đông lạnh nhập khẩu chủ yếu phục vụ các bếp ăn tập thể, nhà hàng hay cơ sở chế biến. Nhưng khi niềm tin vào độ an toàn của thịt tươi nội địa bị rạn nứt, kết hợp với áp lực chi tiêu trong thời điểm kinh tế khó khăn, người tiêu dùng gia đình bắt đầu chuyển hướng. Họ thà chọn miếng thịt đông lạnh có nguồn gốc, nhãn mác rõ ràng còn hơn mua miếng thịt nóng rình rập rủi ro bệnh dịch hay hóa chất.
Chính sự buông lỏng trong kiểm soát dịch bệnh và lòng tham của một bộ phận người nuôi, thương lái đã vô tình "trải thảm đỏ" rước thịt ngoại chiếm lĩnh từng góc bếp của người Việt.
Nỗi đau "càng nuôi càng lỗ": Treo chuồng hay chờ phá sản?
Chưa bao giờ bức tranh làng quê ở các vùng chăn nuôi trọng điểm lại nhuốm gam màu trầm như hiện nay. Đến ngày 20-10, giá heo hơi xuất bán chạm đáy 50.000 – 53.000 đồng/kg, giảm tới 30.000 đồng so với đỉnh điểm năm ngoái. Trứng gà công nghiệp xuất trại ngụp lặn ở mức 1.650 đồng/quả (thấp hơn giá thành 100 đồng), trong khi gà công nghiệp lông trắng xuất chuồng chỉ đạt 29.000 đồng/kg.
Nhìn dãy chuồng trại quy mô 185.000 con gà đẻ được đầu tư bài bản, ông Nguyễn Văn Khoa (Đồng Nai) không giấu nổi vẻ chua xát. Năm ngoái, giá trứng có lúc lên 2.800 đồng/quả, nhưng từ đầu năm đến nay, chưa bao giờ vượt qua mốc 2.000 đồng, thậm chí có chuỗi ngày dài đứng ở mức dưới 1.400 đồng.
"Mỗi ngày ra lò hàng trăm nghìn quả trứng, gánh khoản lỗ cả chục triệu đồng. Cắn răng chịu đựng mấy tháng trời, giờ tôi không thể cầm cự thêm được nữa, buộc phải bán bớt đàn để cắt lỗ," ông Khoa cay đắng chia sẻ.
Ngay cả những người chăn nuôi gia công lâu năm cho các tập đoàn lớn như bà Nguyễn Thị Lạc (TP.HCM) cũng thừa nhận: "Chỉ những ai chấp nhận ăn lời cực mỏng, có doanh nghiệp bao tiêu đầu ra thì mới sống sót. Còn những hộ nuôi nhỏ lẻ, nằm ngoài chuỗi liên kết thì gần như không còn cửa lùi."
Tại Đồng Nai, nơi từng được xem là " thủ phủ" chăn nuôi của cả nước, xu hướng giảm đàn ở các trang trại lớn và treo chuồng hàng loạt ở các hộ nhỏ lẻ đang diễn ra rầm rộ. Lãi suất ngân hàng, chi phí logistics, giá thức ăn tăng cao cộng với nguy cơ trắng tay vì dịch bệnh đã bào mòn sức chịu đựng cuối cùng của người nông dân.

Giá trứng tụt giảm thổi bay lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp.
Lối thoát nào cho ngành chăn nuôi Việt?
Đứng trước bức tranh u xám ấy, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cảnh báo: "Nếu không sớm thay đổi chính sách quản lý nhập khẩu và tổ chức lại quy trình sản xuất nội địa, ngành chăn nuôi trong nước sẽ kiệt sức." Để vượt qua khủng hoảng này, ngành chăn nuôi không thể tiếp tục bấu víu vào tư duy cũ. Đã đến lúc phải hành động quyết liệt:
Thứ nhất, xây dựng rào cản kỹ thuật lành mạnh: Nhà nước cần siết chặt kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm nghiêm ngặt đối với thịt nhập khẩu, bình đẳng như cách các nước đang áp dụng với nông sản Việt Nam.
Thứ hai, làm sạch và chuyên nghiệp hóa nội tại: Quan trọng hơn cả là nội ngành phải tự cứu lấy mình. Người chăn nuôi buộc phải bước vào chuỗi liên kết khép kín, ứng dụng công nghệ để hạ giá thành, và trên hết là nói không với chất cấm, gian lận thương mại.
Lấy lại niềm tin của người tiêu dùng Việt chính là con đường duy nhất để con heo, con gà trong nước giữ vững vị thế ngay trên sân nhà. Thời của cách làm ăn chụp giật, nhỏ lẻ đã chính thức khép lại. Muốn tồn tại, chăn nuôi Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm thật, sạch thật và chuyên nghiệp thật!