Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Hà Nội 22°C /57%

Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Giá heo hơi tụt dốc: Khi "ông lớn" gồng mình giữa cuộc chiến sinh tồn

E-magazine

Giá heo hơi tụt dốc: Khi "ông lớn" gồng mình giữa cuộc chiến sinh tồn

TACN - Giá lợn heo rơi xuống đáy, chịu áp lực cạnh tranh từ thịt ngoại. Khám phá cách các "ông lớn" như BAF, Hòa Phát, Dabaco điều chỉnh chiến lược để sinh tồn.

Thị trường heo hơi đang trải qua những tháng ngày đầy trăn trở. Giữa lúc biên lợi nhuận bị thu hẹp và áp lực cạnh tranh từ thịt ngoại đè nặng, các doanh nghiệp chăn nuôi lớn tại Việt Nam buộc phải đứng trước những ngã rẽ: hoặc khẩn trương mở rộng hệ thống phân phối để tự cứu mình, hoặc chọn cách thắt lưng buộc bụng, đi chậm mà chắc chờ qua cơn “bĩ cực”.

Thị trường lợn hơi đang trải qua những tháng ngày đầy trăn trở.

Áp lực kép từ giá rẻ và thịt ngoại

Bước sang trung tuần tháng 10/2026, thị trường heo hơi vẫn chưa tìm thấy điểm dừng sau chuỗi ngày trượt giá liên tiếp. Ghi nhận vào ngày 19/10, giá heo hơi tại nhiều địa phương như Vĩnh Long đã chạm đáy, rơi xuống mức 50.000 đồng/kg mức thấp nhất tính từ đầu năm đến nay. Các vùng còn lại dù có nhỉnh hơn đôi chút nhưng mặt bằng chung cũng chỉ dao động quanh ngưỡng 51.000 – 53.000 đồng/kg.

Nỗi đau của người chăn nuôi nằm ở chỗ mức giá này đã thấp hơn hẳn giá thành sản xuất thực tế. Trong khi đó, theo số liệu cập nhật đến hết tháng 8, thịt heo nhập khẩu tràn vào nước ta với giá trung bình chỉ khoảng 1.700 USD/tấn, quy đổi ra tương đương chừng 45.000 đồng/kg. Với lợi thế giá rẻ đến giật mình, thịt ngoại đang nhanh chóng thâm nhập và chiếm lĩnh các bếp ăn công nghiệp, chuỗi nhà hàng lớn và các nhà máy chế biến thực phẩm.

Đối với người tiêu dùng, thịt giá rẻ là một tin vui; nhưng với những người gắn bó cả đời với chuồng trại, đây lại là chiếc vòng kim cô xiết chặt biên lợi nhuận. Khối lượng thịt nhập khẩu dẫu chưa quá lớn so với tổng sản lượng hơn 5 triệu tấn mà ngành chăn nuôi trong nước làm ra trong 8 tháng qua, nhưng độ chênh lệch về giá đã đẩy người nuôi vào thế "càng nuôi càng lỗ".

Cảnh "mất ăn mất ngủ" đang hiện hữu rõ nét tại các thủ phủ chăn nuôi. Đứng trước chuồng heo đã đến lứa xuất chuồng nhưng gọi hoài chẳng bóng thương lái ghé qua, ông Trần Văn Phi (xã Gia Kiệm, TP. Đồng Nai) không giấu nổi tiếng thở dài. Giá heo rớt thê thảm dao động từ 50.000 -53.000 đồng/kg, cộng thêm những thông tin bất lợi xung quanh dư luận về chất cấm salbutamol gần đây, khiến thị trường gần như đóng băng.

“Bây giờ quá chậm, hầu như thương lái không cần mua. Người ta tránh xa miếng thịt mang tiếng dính chất cấm, chẳng ai dám sử dụng. Nó ảnh hưởng đến cả cộng đồng, và hệ quả là người nuôi chúng tôi đành ngậm ngùi chịu trận vì không thể bán được hàng,” ông Phi bộc bạch.

“Bây giờ quá chậm, hầu như thương lái không cần mua. Người ta tránh xa miếng thịt mang tiếng dính chất cấm, chẳng ai dám sử dụng. Nó ảnh hưởng đến cả cộng đồng, và hệ quả là người nuôi chúng tôi đành ngậm ngùi chịu trận vì không thể bán được hàng,”

ông Trần Văn Phi (xã Gia Kiệm, TP. Đồng Nai)

Bức tranh lợi nhuận lu mờ và bài toán phân phối

Đà tụt dốc không phanh của giá heo hiện đã giảm tới khoảng 35% so với đỉnh hồi đầu năm đã lập tức thổi bay thành quả lợi nhuận của nhiều "ông lớn" trong ngành, dẫu trên nền so sánh tương đối cao của năm ngoái.

Tập đoàn Dabaco Việt Nam là một ví dụ điển hình khi ghi nhận lợi nhuận sau thuế nửa đầu năm 2026 hụt đi gần 35%, lùi về mức 663 tỷ đồng, dẫu doanh thu vẫn nhích nhẹ 16,6% đạt 8.377 tỷ đồng. Tương tự, Nông nghiệp Hòa Phát chứng kiến cả doanh thu và lợi nhuận cùng lao dốc lần lượt 22% và 31%, chỉ còn vỏn vẹn 3.380 tỷ đồng doanh thu và 648 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Trong khi đó, BAF Việt Nam có phần “dễ thở” hơn đôi chút khi mức sụt giảm lợi nhuận được kìm chân ở ngưỡng 9% (đạt 310 tỷ đồng), nhờ doanh thu bứt phá tới 55% lên 3.900 tỷ đồng.

Trước tình hình ấy, mỗi doanh nghiệp chọn cho mình một hướng đi riêng để sinh tồn. Tại BAF, doanh nghiệp này chọn cách đánh mạnh vào khâu phân phối cuối cùng để tự chủ đầu ra. Chỉ tính riêng nửa đầu tháng 10/2026, công ty đã khai trương thêm 3 nhà hàng Cơm niêu Siba và Cơm ngon Siba tại Thanh Hóa và TP.HCM, nâng hệ thống điểm bán của thương hiệu lên con số 32. Không dừng lại ở đó, việc bắt tay với Bộ Công Thương đưa thịt heo lên sàn giao dịch để phân phối vào các chợ truyền thống, kết hợp cùng 42 cửa hàng Siba Mart, 1.000 điểm bán nhượng quyền và các hệ thống lớn như Winmart, BRG Mall, AEON... đang tạo ra một "mạng nhện" tiêu thụ rộng khắp. Nhờ thế, BAF vẫn giữ được sự tự tin để theo đuổi chiến lược tăng đàn, nuôi mộng chạm mốc 10 triệu heo thương phẩm vào năm 2030.

Ngược lại, "tân binh" Nông nghiệp Hòa Phát (thuộc Tập đoàn Hòa Phát) lại chọn lối đi thận trọng hơn nhiều. Đến hết quý II/2026, dù thị trường chìm trong sắc đỏ, doanh nghiệp này vẫn âm thầm tăng giá trị đàn heo nái lên 10% nhờ mô hình chung cư nuôi heo công nghệ cao hợp tác với đối tác Trung Quốc. Tuy nhiên, tầm nhìn của Hòa Phát khá dài hạn khi đặt mục tiêu đưa đàn heo nái lên 30.000 - 32.000 con vào năm 2030 (chỉ tăng khoảng 20% so với hiện tại) - một tốc độ khiêm tốn nếu đặt cạnh các đối thủ lớn.

Theo đại diện Hòa Phát, việc tăng đàn từ tốn nhằm đảm bảo năng lực vận hành, tối ưu hóa giá thành và giữ vững nội lực trước giông bão thị trường. Minh chứng rõ nhất là quy mô danh mục súc vật nuôi cho sản phẩm định kỳ giai đoạn trưởng thành của công ty đã giảm hơn một nửa, từ 228 tỷ đồng đầu năm xuống còn 101 tỷ đồng vào cuối quý II. Dabaco cũng có động thái tương tự khi khoản mục này giảm 6,4% về 603 tỷ đồng, nhưng doanh nghiệp này vẫn kiên định tìm kiếm quỹ đất để nâng tổng đàn nái từ 60.000 con lên 80.000 con vào năm 2028.

Trang trại chăn nuôi công nghệ cao quy mô lớn của Tập đoàn Dabaco.

Cơn gió ngược phía trước: Liệu có rủi ro dư cung?

Nhìn xa hơn vào tương lai, các chuyên gia và doanh nghiệp đều chung nhận định rằng thị trường heo hơi sẽ khó lòng phục hồi nhanh chóng trong ngắn hạn. Trong cuộc gặp gỡ nhà đầu tư gần đây, Nông nghiệp Hòa Phát đưa ra dự báo thẳng thắn: mặt bằng giá heo khó có khả năng hồi phục vào năm 2027, thậm chí có nguy cơ trúng vào vùng giá đáy theo chu kỳ 3 năm.

Áp lực này đặt ra một bài toán hóc búa cho các doanh nghiệp quy mô lớn. Một mặt, họ buộc phải tích cực mở rộng quy mô để chiếm lĩnh thị phần do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ để lại (sau khi bị quét sạch bởi dịch tả heo châu Phi hoặc phải đóng cửa vì không đáp ứng nổi các tiêu chuẩn khắt khe của Luật Chăn nuôi). Mặt khác, việc ồ ạt tăng tốc mở rộng đàn heo lại tiềm ẩn một rủi ro mang tính hệ thống vô cùng lớn: dư cung.

Nông nghiệp Hòa Phát đưa ra cảnh báo rằng nếu tốc độ tăng trưởng đàn cứ duy trì ào ạt như hiện nay, thị trường heo Việt Nam hoàn toàn có thể rơi vào bẫy dư thừa nguồn cung trong 2 đến 3 năm tới, lặp lại đúng kịch bản đau thương mà ngành chăn nuôi Trung Quốc từng gánh chịu giai đoạn 2020 – 2024.

Giữa lằn ranh của cơ hội mở rộng thị phần và nguy cơ dư cung hiển hiện, chặng đường sắp tới của các doanh nghiệp chăn nuôi heo sẽ đòi hỏi một cái đầu lạnh, sự linh hoạt trong chiến lược chuỗi giá trị và trên hết là năng lực tối ưu hóa chi phí để vượt qua mùa đông thị trường này.

Xuân Thủy