Theo thông báo số G/SPS/N/PHL/545 từ Văn phòng SPS Việt Nam, lệnh cấm đã có hiệu lực từ ngày 19/9/2026, sớm hơn 18 ngày so với thời điểm thông báo chính thức tới WTO (ngày 7/10/2026). Dù đây là trình tự được phép theo Hiệp định SPS đối với các biện pháp khẩn cấp, khoảng chênh lệch thời gian này đặt ra rủi ro không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam đối với những hợp đồng đã ký hoặc các lô hàng đang trên đường vận chuyển.

Lệnh cấm của Philippines không áp dụng với tất cả sản phẩm chăn nuôi. Một số mặt hàng vẫn được phép nhập khẩu nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện kiểm dịch thú y.
Danh mục bị Philippines tạm cấm bao gồm: thịt cơ, ruột, mỡ, móng, sừng động vật; lợn, bò, hươu, nai sống và tinh dịch của các loài này. Hàng hóa thuộc diện vi phạm sẽ bị đình chỉ nhập khẩu và tịch thu ngay tại cửa khẩu. Lệnh cấm diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam đang tăng trưởng tích cực. Tính chung 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ – mức tăng cao nhất trong các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản.
Tuy nhiên, quy định mới không áp dụng cho toàn bộ ngành chăn nuôi. Thị trường Philippines vẫn mở cửa đối với các sản phẩm chế biến đáp ứng đầy đủ điều kiện kiểm dịch thú y. Danh mục ngoại lệ gồm: sữa và sản phẩm từ sữa xử lý ở nhiệt độ siêu cao (UHT); sản phẩm thịt xử lý nhiệt trong bao bì kín đạt giá trị F₀ từ 3 phút trở lên (thước đo hiệu quả tiệt trùng quy đổi tương đương ở121°C); bột protein; gelatin; da ngâm axit, da xử lý bằng vôi và da thuộc bán thành phẩm. Doanh nghiệp cần lưu ý chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật chứng minh quy trình xử lý nhiệt thay vì chỉ xác nhận chung chung.
Không riêng Philippines, nhiều thị trường lớn cũng đang gia tăng rào cản kỹ thuật đối với nông, thủy sản Việt Nam:Thị trường Canada (Rau quả): Đã phát đi hai dự thảo đề xuất kiểm soát mức dư lượng tối đa (MRL). Dự thảo G/SPS/N/CAN/1650 đề xuất MRL đối với hoạt chất Cyprodinil là 4,0 ppm trên quả na và 2,0 ppm đối với nhóm trái cây nhiệt đới/cận nhiệt đới vỏ không ăn được (mã 24A như vải, nhãn, chôm chôm, chanh leo). Dự thảo G/SPS/N/CAN/1649 đề xuất dư lượng Fludioxonil là 20 ppm trên quả na và nhóm 24A, cùng 4,0 ppm đối với chuối. Thời hạn góp ý trước ngày 13/12/2026.
Thị trường Ai Cập (Thủy sản): Xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn ES 3495 về an toàn thực phẩm đối với cá đông lạnh nhanh dạng thanh, phi lê tẩm bột (dựa trên Codex CXS 166-1989). Đồng thời, Nghị định 209/2026 quy định thời gian chuyển tiếp 6 tháng để áp dụng Tiêu chuẩn ES 804 (cá ngừ đóng hộp) và ES 1725 (cá muối). Hạn góp ý trước ngày 6/12/2026.
Thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Campuchia: Campuchia ban hành quy định mới siết chặt kiểm soát vệ sinh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn HACCP đối với thủy sản. Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu từ 1/1/2027, toàn bộ thực vật nhập khẩu phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch ISPM 12 ghi nhận đầy đủ thông tin xử lý khử trùng/khử khuẩn.
Số liệu từ Văn phòng SPS Việt Nam cho thấy, từ đầu năm đến giữa tháng 9/2026, các thành viên WTO đã ban hành tới 822 thông báo SPS. Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam Ngô Xuân Nam đề nghị các doanh nghiệp và hợp tác xạ cần nhanh chóng đưa các rào cản kỹ thuật này vào quản trị chuỗi sản xuất. Việc ứng dụng công nghệ phải đi đôi với minh bạch thông tin và kiểm soát an toàn thực phẩm.
Đối với các lô hàng đang giao dịch với Philippines, doanh nghiệp cần khẩn trương làm việc với đối tác nhập khẩu để rà soát hợp đồng, điều kiện kiểm dịch và lịch giao hàng. Mọi ý kiến đóng góp cho các dự thảo của Canada và Ai Cập cần gửi về Văn phòng SPS Việt Nam (qua cổng spsvietnam.gov.vn) trước hạn chót từ 3–5 ngày để tổng hợp.