DABACO - Hành trình tạo giá trị bền vững
Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Hà Nội 22°C /57%

Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
18/08/2026 08:38 (GMT +7)

Bắc Ninh phát triển chuỗi liên kết xuất khẩu thủy sản bền vững

TACN - Thay vì quẩn quanh với phương thức nuôi ghép truyền thống "ăn chắc mặc bền", ngành thủy sản Bắc Ninh đang trải qua cuộc chuyển mình mạnh mẽ nhờ tư duy sản xuất theo nhu cầu thị trường. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng nuôi theo tiêu chuẩn GlobalGAP, ứng dụng công nghệ tự động hóa và siết chặt liên kết chuỗi giữa "Nhà nước - Doanh nghiệp - Người nuôi" đã giúp nâng cao đáng kể năng suất và giá trị thương phẩm. Dù sở hữu dư địa sản xuất lớn với sản lượng tiệm cận 100.000 tấn/năm, tỷ lệ thủy sản

Khi người nông dân rời bỏ lối nuôi truyền thống

Tại Bắc Ninh, câu chuyện "nuôi con gì, trồng cây gì" từng chịu vòng quẩn quanh của tập quán truyền thống: thả ghép trắm, trôi, chép, mè trong cùng một ao với mục tiêu tận dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên. Mô hình này giúp bà con "ăn chắc mặc bền", nhưng tuyệt nhiên không thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hay bước chân vào các kênh phân phối hiện đại, chưa nói đến xuất khẩu.

Sự chuyển dịch rõ nét nhất bắt đầu xuất hiện khi ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cùng các cơ quan chuyên môn đẩy mạnh định hướng chuyển đổi. Việc thay đổi tư duy sản xuất từ "làm ra cái mình có" sang "sản xuất cái thị trường cần" đã kích hoạt làn sóng chuẩn hóa vùng nuôi.

Cán bộ Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh kiểm tra ao nuôi cá phục vụ xuất khẩu của gia đình ông Nguyễn Văn Chính ở xã Nhã Nam. Ảnh: Nguyễn Tuấn.


Năm 2023, thông qua sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, gia đình bà Cao Thị Kiểu ở xã Lâm Thao đã mạnh dạn hợp tác với Hợp tác xã Sản xuất và Thương mại thủy sản Xuyên Việt (Hải Phòng) để chuyển sang nuôi chuyên canh cá rô phi đơn tính phục vụ chế biến xuất khẩu trên diện tích gần 1 ha.

Bà Kiểu cho biết, toàn bộ quy trình từ khâu làm đất, tát cạn, nạo vét bùn đáy (chỉ giữ lại lớp bùn non từ 5-10 cm), xử lý vôi bột khử trùng, phơi đáy ao từ 7-10 ngày cho đến khâu cấp nước đều tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn GlobalGAP. Bên cạnh đó, người nuôi phải kiểm soát sát sao độ pH, hàm lượng oxy hòa tan, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học và thiết bị test môi trường hằng tuần. Quan trọng hơn cả là thói quen ghi chép nhật ký chăm sóc – chìa khóa cho việc truy xuất nguồn gốc sau này.

Hiệu quả kinh tế cho thấy, năng suất ao nuôi đạt 23 – 25 tấn cá thương phẩm/ha sau 6-7 tháng. Trọng lượng đạt trung bình 0,8 – 0,9 kg/con, đáp ứng tiêu chuẩn fillet. Sản phẩm được bao tiêu toàn bộ, thu nhập ròng của hộ nuôi tăng khoảng 10% so với phương thức nuôi cũ.

Tương tự, tại xã Nhã Nam, gia đình ông Nguyễn Văn Chính lại tiếp cận bài toán chuẩn hóa theo hướng công nghệ hóa. Tham gia đề án tự động hóa nuôi thủy sản thâm canh do Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản hỗ trợ từ năm 2024, ông Chính chuyển đổi 1 ha sang nuôi rô phi xuất khẩu. Việc vận hành ao nuôi được số hóa hoàn toàn: hệ thống camera giám sát, máy phun cám tự động, cảm biến đo nồng độ oxy và quạt nước điều khiển từ xa. Nhờ kiểm soát tối ưu các yếu tố môi trường, năng suất ao nuôi của gia đình ông tăng gấp 1,5 đến 2 lần, thu hoạch 60 – 62 tấn cá/vụ, mang lại lợi nhuận từ 120 – 130 triệu đồng.

Quy mô hạ tầng và dư địa phát triển của thủy sản Bắc Ninh

Để đánh giá đúng tiềm năng xuất khẩu, cần nhìn vào bức tranh tổng thể về hạ tầng và năng lực cung ứng thủy sản của tỉnh Bắc Ninh hiện nay:

Toàn tỉnh sở hữu khoảng 16.200 ha diện tích nuôi trồng thủy sản (trong đó có 9.520 ha nuôi chuyên canh).

Vùng nuôi tập trung: Gần 100 vùng nuôi quy mô từ 10 ha/vùng trở lên tại các khu vực trọng điểm như Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang, Hiệp Hòa, Gia Bình, Lương Tài, Trung Chính…

Nuôi lồng bè: 2.911 lồng nuôi cá trên sông, khai thác hiệu quả hệ thống sông ngòi tự nhiên.

Tổng sản lượng: Ước đạt từ 95.000 đến 99.700 tấn/năm. Cơ cấu sản phẩm đa dạng gồm cá rô phi, chép, trắm, trôi, mè, nheo Mỹ, chép giòn, diêu hồng, cá tầm, cá bỗng…

Năng lực sản xuất giống: 9 cơ sở sản xuất, ương dưỡng cung cấp khoảng 750 triệu con giống/năm, đảm bảo tự chủ nguồn giống nội tỉnh và cung cấp cho các địa phương lân cận.

Sản lượng cá rô phi: Khoảng 9.000 ha nuôi ghép và chuyên canh, cho sản lượng riêng dòng cá rô phi đơn tính đạt khoảng 30.000 tấn/năm.

Nhìn vào số liệu trên, rõ ràng Bắc Ninh không thiếu dư địa hay năng lực sản xuất. Mặt hàng cá rô phi, đặc biệt là dạng fillet đang khẳng định vị thế là sản phẩm chiến lược của thủy sản Việt Nam, bên cạnh cá tra. Với kim ngạch xuất khẩu toàn quốc đạt xấp xỉ 100 triệu USD năm 2025 và tiệm cận 70 triệu USD ngay trong 6 tháng đầu năm 2026, dư địa thị trường tại Mỹ, Trung Quốc và Châu Âu là vô cùng lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ sản lượng cá của Bắc Ninh tham gia vào chuỗi xuất khẩu chính ngạch hiện mới chỉ đạt khoảng 1.000 – 2.000 tấn/năm (chiếm 1 – 2% tổng sản lượng toàn tỉnh). Con số này khiêm tốn so với tiềm năng vốn có, đặt ra đòi hỏi cấp thiết về việc gỡ bỏ các rào cản kỹ thuật và liên kết.

Giải bài toán liên kết chuỗi và rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật

Thực tế kiểm định cho thấy, để đưa được một con cá rô phi từ ao nuôi Bắc Ninh đến bàn ăn của người tiêu dùng tại Mỹ, EU, Nhật Bản hay Brazil, sản phẩm phải vượt qua rào cản kỹ thuật khắt khe dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi:

An toàn vệ sinh thực phẩm: Tuyệt đối không chứa dư lượng kháng sinh, hóa chất cấm hay vi sinh vật gây hại.

Chất lượng thương phẩm: Đảm bảo tỷ lệ fillet, màu sắc cơ thịt, cảm quan và độ đồng đều về trọng lượng.

Truy xuất nguồn gốc: Minh bạch hóa toàn bộ quá trình nuôi thông qua nhật ký điện tử/nhật ký giấy từ khâu con giống, thức ăn đến thu hoạch.

Phát triển bền vững: Vùng nuôi phải nằm tách biệt nguồn xả thải, có hệ thống cấp - thoát nước riêng biệt; sử dụng nguồn thức ăn bền vững (như đậu nành có chứng nhận) và không gây ô nhiễm môi trường xung quanh.

Ông Đỗ Huy Khôi, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh Bắc Ninh thẳng thắn nhìn nhận: Dù ngành nông nghiệp đã tích cực đóng vai trò cầu nối, thúc đẩy ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm, chuỗi liên kết vẫn còn những mắt xích yếu. Giá bán nội địa đôi khi bấp bênh, và vẫn còn những lô hàng chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự thiếu đồng bộ trong khâu tuân thủ quy trình kỹ thuật của một bộ phận người nuôi, từ khâu xử lý môi trường ao, kiểm soát thức ăn cho đến việc tiêm vắc-xin phòng bệnh cho cá.

Hướng đi bền vững cho thủy sản Bắc Ninh

Để mở rộng cánh cửa xuất khẩu, chiến lược của ngành thủy sản Bắc Ninh không thể dừng lại ở việc tăng sản lượng đơn thuần, mà phải nâng cao chất lượng chuỗi giá trị thông qua mô hình hợp tác đa bên.

Thành tố chuỗi liên kết

Vai trò và giải pháp triển khai

Cơ quan Quản lý Nhà nước

* Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản đóng vai trò cầu nối pháp lý và kỹ thuật.

* Đẩy mạnh hỗ trợ con giống đạt chuẩn, giám sát định kỳ chất lượng môi trường nước vùng nuôi.

* Tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn xây dựng mã số vùng nuôi và nhật ký truy xuất nguồn gốc.

Doanh nghiệp bao tiêu

* Đặt hàng tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng; ký hợp đồng bao tiêu đầu ra với giá ổn định ngay từ đầu vụ.

* Cung cấp con giống đạt chuẩn, phân phối thức ăn chuyên biệt từ nguồn nguyên liệu bền vững.

* Cùng người nuôi xây dựng quy trình dinh dưỡng, tiêu chuẩn nước và lịch trình vận hành thiết bị.

Hộ nuôi / Hợp tác xã

* Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình VietGAP/GlobalGAP, từ bỏ tư duy nuôi xổi hoặc dùng thuốc cấm.

* Tuân thủ thời gian dừng sử dụng thuốc trước thu hoạch để kiểm tra dư lượng.

* Chủ động đầu tư hạ tầng tự động hóa nhằm tối ưu chi phí và kiểm soát rủi ro dịch bệnh.

Kinh nghiệm thực tiễn từ các vùng nuôi thành công tại Bắc Ninh cho thấy: Khi người nông dân được đảm bảo đầu ra bằng hợp đồng bao tiêu minh bạch, họ sẵn sàng tuân thủ những quy định khắt khe nhất. Sự gắn kết chặt chẽ giữa "Nhà nước - Doanh nghiệp - Người nuôi" không chỉ giúp loại bỏ rủi ro "được mùa mất giá", mà còn là con đường duy nhất để thủy sản Bắc Ninh thoát khỏi chiếc áo chật hẹp của thị trường nội địa, tự tin vươn xa ra thị trường quốc tế.


Quang Phương
đọc nhiều

Cởi trói ngành chăn nuôi: 
Biết tổng đàn chưa đủ, phải điều tiết được thị trường

Cởi trói ngành chăn nuôi: Biết tổng đàn chưa đủ, phải điều tiết được thị trường

Đối thoại & Chính sách  -  13/08/2026 08:27
TACN - Tiếp tục kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, chiều 12/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận.
'Chuồng trại nhà cao tầng' và phép thử mới của ngành chăn nuôi Việt Nam
Cải cách hành chính ngành chăn nuôi: Quản theo rủi ro thay vì quản theo diện tích
Hà Tĩnh chuẩn bị khởi công Tổ hợp nông nghiệp 4F lớn nhất Việt Nam
Thị trường heo hơi ngày 13/8: Đà giảm tiếp tục lan rộng trên cả ba miền, giá từ 57.000 – 59.000 đồng/kg