
Nuôi cá tra xuất khẩu tại Cần Thơ. Ảnh: Báo Cần Thơ
Đây là bước đi mang tính chiến lược, thể hiện tư duy quản trị hiện đại, chuyển từ thế ứng phó thụ động sang chủ động kiểm soát và cảnh báo sớm. Quyết định này được cụ thể hóa dựa trên Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường ngành thủy sản giai đoạn 2026–2030 do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 966/QĐ-BNNMT ngày 23/3/2026.
Để đảm bảo hiệu quả của hệ thống cảnh báo, Kế hoạch của UBND thành phố Cần Thơ xác định rõ phạm vi quan trắc phải bao phủ toàn bộ các vùng sản xuất trọng điểm, gắn liền chất lượng nguồn nước với từng khu vực sinh thái đặc thù. Đối tượng theo dõi xuyên suốt là chất lượng môi trường nước mặt tại các hệ thống cấp nước đầu nguồn và các ao nuôi đại diện cho những loài thủy sản chủ lực, có giá trị kinh tế cao như cá tra, tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
Đối với vùng nuôi nước ngọt: Trọng tâm là sản xuất cá tra và các loài cá truyền thống. Mạng lưới quan trắc được bố trí linh hoạt dọc theo tuyến sông Hậu và hệ thống sông, kênh rạch huyết mạch trải rộng qua các địa bàn nuôi trọng điểm như Vĩnh Trinh, Thuận Hưng, Thới Long, Ô Môn, Thới Hưng.
Đối với vùng nuôi tôm nước lợ: Quy hoạch ghi nhận diện tích nuôi trồng lên tới 52.490 ha (gồm 12.690 ha tôm sú và 39.790 ha tôm thẻ chân trắng). Thành phố thiết lập 16 điểm quan trắc chiến lược tại vùng nước lợ và mặn, đặt tại vị trí đầu nguồn của 10 khu vực nuôi tôm tập trung như Cù Lao Dung, Nhu Gia, Ngọc Tố, Hòa Tú, Gia Hòa, Lai Hòa, Vĩnh Hải, Trần Đề, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Khánh Hòa, Vĩnh Phước và Vĩnh Châu.
Phương pháp thu thập dữ liệu được thiết kế đạt chuẩn kỹ thuật nhằm đảm bảo tính chính xác tối đa. Tại các tuyến sông mở và nguồn nước cấp, điểm thu mẫu được bố trí theo trắc diện ngang của lòng sông. Đối với môi trường ao nuôi, phương pháp lấy mẫu hỗn hợp tại ba điểm theo đường chéo được áp dụng nhằm phản ánh khách quan nhất thực trạng môi trường nước.
Điểm cốt lõi của mạng lưới quan trắc không chỉ dừng lại ở việc thu thập số liệu mà là chuyển hóa dữ liệu thành các khuyến cáo kỹ thuật thiết thực cho người dân. Nhóm thông số theo dõi bao quát các chỉ số lý - hóa - sinh học khắt khe:
Chỉ tiêu thông thường: Đo đạc nhiệt độ, pH, độ mặn, oxy hòa tan (DO), COD, TSS, độ kiềm. Các chỉ số cơ bản này được đo trực tiếp tại hiện trường với tần suất 4 lần/tháng.
Chỉ tiêu dinh dưỡng và vi sinh: Theo dõi biến động của Nitơ, Phốt pho và các chủng vi sinh vật gây bệnh. Tần suất thu mẫu đạt 824 mẫu trong năm 2026 và duy trì 624 mẫu/năm giai đoạn 2027–2030.
Chỉ tiêu độc chất: Phân tích hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng và dư lượng độc hại với quy mô 55 mẫu/năm.
Tùy thuộc vào từng đối tượng nuôi, tần suất giám sát định kỳ được tối ưu hóa. Vùng nuôi tôm nước lợ duy trì tần suất 2 đợt/tháng tại 20 điểm cố định (424 mẫu/năm). Vùng nuôi cá tra nước ngọt trong năm đầu triển khai (2026) thực hiện dày đặc 4 đợt/tháng tại 10 điểm trọng yếu (400 mẫu) nhằm xây dựng dữ liệu nền, sau đó điều chỉnh về 2 đợt/tháng (200 mẫu/năm) trong giai đoạn 2027–2030.
Nhằm tối ưu hóa giá trị thực tiễn, Kế hoạch siết chặt thời gian xử lý dữ liệu: bản tin quan trắc, cảnh báo môi trường phải được ban hành chậm nhất trong vòng 3 ngày kể từ khi hoàn thành phân tích mẫu.
Để thông tin cảnh báo không bị tắc nghẽn, thành phố Cần Thơ triển khai đồng bộ các kênh truyền thông đa phương tiện. Thông tin không chỉ được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Sở Nông nghiệp và Môi trường mà còn được truyền tải qua hệ thống loa phát thanh cơ sở, tin nhắn SMS trực tiếp đến hộ nuôi, kết hợp từng bước tích hợp trên các ứng dụng nền tảng số.
Song song với hạ tầng dữ liệu, năng lực ứng phó của cộng đồng được xác định là mắt xích quyết định. Thành phố sẽ tổ chức 25 lớp tập huấn chuyên sâu cho 1.250 học viên là cán bộ quản lý và người nuôi thủy sản tại các vùng trọng điểm. Chương trình tập trung trang bị kỹ năng kiểm soát môi trường, phòng dịch bệnh, xử lý ao nuôi và áp dụng dữ liệu quan trắc vào quy trình quản lý thực địa.
Đặc biệt, sự phối hợp liên ngành giữa ngành Nông nghiệp và Đài Khí tượng Thủy văn sẽ cung cấp 14 bản tin dự báo chuyên ngành (10 bản tin tháng, 3 bản tin quý, 1 bản tin năm), giúp người dân chủ động nắm bắt biến động thời tiết, thủy triều, độ mặn và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Nhằm đảm bảo tính khả thi và chu kỳ vận hành ổn định trong suốt giai đoạn 2026–2030, UBND thành phố Cần Thơ đã phê duyệt tổng kinh phí thực hiện là 10.235.837.800 đồng từ nguồn ngân sách nhà nước cân đối hằng năm.
Quyết định phê duyệt Kế hoạch quan trắc môi trường giai đoạn 2026–2030 của UBND thành phố Cần Thơ là minh chứng cho định hướng phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, chất lượng và bền vững. Việc chủ động kiểm soát chất lượng môi trường nước không chỉ bảo vệ sinh kế cho hàng nghìn hộ dân, giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh, mà còn đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao giá trị và thương hiệu cho nông sản Cần Thơ trên thị trường trong nước và quốc tế.