Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Hà Nội 22°C /57%

Tạp chí điện tử Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
02/11/2026 12:04 (GMT +7)

Ngành tôm tìm động lực bứt phá từ chiều sâu công nghệ

TACN - Giữa bối cảnh các thị trường khắt khe, lối thoát duy nhất để giữ vững đà tăng trưởng, ngành tôm chủ động làm chủ khoa học, công nghệ trên toàn chuỗi giá trị.

Nông dân Vĩnh Long ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm.

Dù liên tục lập kỷ lục với kim ngạch hàng tỷ USD, ngành tôm Việt Nam vẫn đang phải gỡ nhiều "nút thắt": từ sự phụ thuộc tới 80% nguồn giống nhập khẩu, chi phí nuôi leo thang đến khoảng trống số hóa vùng nuôi. Giữa bối cảnh các thị trường khắt khe ngày càng siết chặt tiêu chuẩn, lối thoát duy nhất để bảo vệ vị thế và giữ vững đà tăng trưởng không gì khác ngoài việc chủ động làm chủ khoa học, công nghệ trên toàn chuỗi giá trị.

Nút thắt nơi "cuống rốn" và cái giá của sự phụ thuộc

Dù dòng tiền từ xuất khẩu vẫn đổ về, áp lực từ những đợt sóng ngầm thị trường chưa bao giờ lắng xuống. 9 tháng qua, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc bứt phá 37% (đạt gần 1,2 tỷ USD), nhưng ở chiều ngược lại, thị trường Mỹ sụt giảm 15% (còn 498 triệu USD), EU lặng lẽ chững lại với mức giảm 4,9% (còn 406,4 triệu USD). Chi phí vận chuyển, rào cản kỹ thuật và sự khắc nghiệt từ các quy chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đang vắt kiệt sức bền của các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất lại nằm ngay trong nội tại sản xuất. Có một nghịch lý là khoảng 80% nguồn tôm thẻ chân trắng bố mẹ của Việt Nam hiện vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Việc không làm chủ được "cuống rốn" con giống biến người nuôi thành bên thụ động trước bài toán chất lượng và giá cả đầu vào.

Chưa dừng lại ở đó, dịch bệnh luôn rình rập trên từng bờ kênh, từng ao nuôi. Chi phí thức ăn, tiền điện, vật tư y tế và xử lý môi trường liên tục leo thang, trong khi hạ tầng cấp thoát nước lẫn hệ thống quan trắc cảnh báo sớm ở nhiều vùng còn chưa đồng bộ.

Mặt khác, "tấm hộ chiếu" số cho tôm Việt ra thế giới vẫn còn mờ nhạt. Tính đến hết năm 2025, cả nước mới chỉ có 83.468 trong tổng số 340.765 cơ sở nuôi tôm nước lợ bắt buộc đăng ký được cấp mã số vùng nuôi – một tỷ lệ khiêm tốn vỏn vẹn 24,5%. Khi chuỗi dữ liệu từ con giống, nguồn nước, nhật ký cho ăn đến thu hoạch chưa đồng bộ, chúng ta vô tình tự ngáng chân mình trước cánh cửa ngày càng hẹp của các thị trường khắt khe.

Mặc dù xuất khẩu tiếp tục tăng, nhưng ngành tôm vẫn chịu sức ép từ biến động thị trường và chi phí sản xuất.

Chuyển từ "lượng" sang "chất"

Một ngành kinh tế không thể đi xa nếu chỉ bám víu vào việc gia tăng diện tích hay vắt kiệt sản lượng. Mới đây, chia sẻ tại Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề "Ứng dụng các giải pháp tiến bộ kỹ thuật phát triển nuôi tôm nước lợ bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long", bà Châu Thị Tuyết Hạnh, đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư, khẳng định: Ngành tôm bắt buộc phải chuyển mình từ tăng trưởng về số lượng sang nâng cao giá trị gia tăng, coi khả năng quản trị rủi ro làm trọng tâm. Muốn vậy, đường lối bắt buộc phải là nhân rộng các quy trình nuôi tiên tiến, ứng dụng công nghệ sinh học, hệ thống tuần hoàn, cảm biến môi trường và truy xuất nguồn gốc bài bản.

Tại Cần Thơ – trung tâm liên kết vùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Quách Thị Thanh Bình cho biết, diện tích nuôi tôm nước lợ tại đây ổn định ở mức 45.000 ha với sản lượng từ 260.000 - 280.000 tấn/năm. Dù ngành thủy sản thành phố tự tin hướng tới mức tăng trưởng hơn 6,5% trong năm 2026, nhưng áp lực từ biến đổi khí hậu và cạnh tranh toàn cầu vẫn đòi hỏi địa phương phải gạt bỏ tư duy cũ, ưu tiên cho hàm lượng công nghệ thay vì mải mê chạy theo sản lượng thuần túy.

Ở góc độ khuyến nông, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho rằng, không thể để nông dân cô độc trên mảnh ao của mình. Phải gom họ lại trong các tổ hợp tác, hợp tác xã để xây dựng mô hình chuỗi giá trị. Ông Thanh đề xuất đưa các nhiệm vụ nuôi thủy sản thuận thiên, thích ứng với biến đổi khí hậu vào Chương trình Khuyến nông Trung ương giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời biến lực lượng khuyến nông cơ sở thành những người "cùng ăn, cùng làm", hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho từng hộ dân.

Lời giải cho tương lai: Làm chủ công nghệ và minh bạch dữ liệu

Để ngành tôm thoát khỏi cái bóng "loay hoay", Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã vạch ra lộ trình giải bài toán công nghệ một cách căn cơ trên toàn chuỗi:

Thứ nhất, Tự chủ từ khâu chọn giống: Mũi nhọn ưu tiên hàng đầu là nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo tôm bố mẹ sạch bệnh, có tốc độ tăng trưởng nhanh và sức chống chịu cao với điều kiện khắc nghiệt. Chỉ khi tự chủ được nguồn gen đầu vào, ngành tôm mới thoát khỏi thế bị động và tự tin kiểm soát giá thành từ móng.

Thứ hai, Công nghệ nuôi linh hoạt, đo lường bằng hiệu quả thực tế: Những mô hình như nuôi nhiều giai đoạn, Biofloc, tuần hoàn nước (RAS) hay quản lý thức ăn tự động không thể dừng ở mức "trình diễn" trên giấy. Sự lựa chọn công nghệ phải linh hoạt và thích ứng theo từng hệ sinh thái: từ tôm - lúa, tôm - rừng ở Cà Mau đến nuôi thâm canh, siêu thâm canh tại các vùng chuyên canh. Đo lường hiệu quả công nghệ không chỉ nhìn vào tỷ lệ sống hay tốc độ lớn, mà phải tính đến từng kilôgam thức ăn tiết kiệm được, từng kilowatt điện và chi phí thực tế trên mỗi kilôgam tôm thương phẩm khi thu hoạch.

Thứ ba, Chuyển từ "chữa bệnh" sang "phòng bệnh chủ động": Thay vì đợi dịch bệnh bùng phát rồi mới cuống cuồng dập dịch, công nghệ quan trắc tự động và xét nghiệm sớm sẽ giúp theo dõi sát sao nhiệt độ, độ mặn và chất lượng nước. Việc cảnh báo sớm nguy cơ môi trường giúp người nuôi chủ động điều chỉnh quy trình, giảm thiểu tối đa rủi ro trắng tay.

Thứ tư, Chuyển đổi số xuyên suốt - "Tấm hộ chiếu" cho tôm xuất khẩu: Mọi nỗ lực công nghệ dưới nước sẽ giảm bớt ý nghĩa nếu không được số hóa trên bờ. Việc chuẩn hóa mã số cơ sở nuôi, số hóa nhật ký sản xuất và liên thông dữ liệu về giống, thức ăn, môi trường đến thu hoạch chính là "chìa khóa" mở cửa các thị trường khắt khe. Khi dữ liệu minh bạch, cơ sở quản lý dễ giám sát, doanh nghiệp tự tin cam kết chất lượng, còn người nuôi thì chủ động điều chỉnh kỹ thuật theo chuẩn quốc tế.

Lời kết

Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn nhưng cũng đối mặt với những thách thức chưa từng có. Tăng trưởng bằng sức người và diện tích đã chạm trần. Con đường duy nhất để tôm Việt vươn xa và giữ vững vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu chính là tự chủ công nghệ con giống, tối ưu chi phí nuôi và minh bạch hóa dữ liệu vùng trồng. Khi khoa học thực sự chạm đến từng bờ ao, đó mới là lúc ngành tôm tìm thấy động lực tăng trưởng bền vững nhất cho mình.

Xuân Bình