Góp ý Dự thảo Thông tư về kiểm soát giết mổ: Quản lý theo nguy cơ, tăng cường truy xuất nguồn gốc

TACN - Sáng 25/8, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam phối hợp với Hội Chăn nuôi Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức lấy ý kiến góp ý Dự thảo Thông tư quy định về quản lý thuốc thú y và Dự thảo Thông tư quy định về kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y. 


Hội thảo quy tụ đông đảo các chuyên gia, đại diện doanh nghiệp và nhà quản lý nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” thực tiễn, hướng tới hoàn thiện hành lang pháp lý theo tư duy hiện đại: quản lý dựa trên rủi ro, đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc và chuyển dịch mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Báo cáo tại hội thảo, TS. Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam, chỉ rõ công tác kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm tại Việt Nam hiện đối mặt với nhiều bất cập mang tính hệ thống.

Cả nước hiện có 552 cơ sở giết mổ động vật tập trung, trong đó chỉ có 45 cơ sở công nghiệp (cung cấp dây chuyền khép kín và hệ thống kho lạnh, chiếm 8,15%). Dù 100% các cơ sở tập trung đều có lực lượng thú y kiểm soát, hầu hết các nhà máy công nghiệp vẫn chưa hoạt động hết công suất thiết kế.

Trái ngược với hệ thống tập trung, toàn quốc hiện tồn tại tới 24.858 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ. Đáng chú ý, có tới 18.102 cơ sở (chiếm 73%) hoạt động không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và không được chính quyền địa phương cấp phép.

Thực trạng trên dẫn đến nguy cơ lớn về bùng phát dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, đe dọa an toàn thực phẩm và gây bất bình đẳng trong cạnh tranh thương mại. Nguyên nhân xuất phát từ quy hoạch chưa hợp lý, thiếu cơ chế hỗ trợ nguồn lực đầu tư xử lý chất thải, lực lượng thú y cơ sở mỏng và thói quen tiêu dùng thịt tươi ("thịt nóng") của người dân.

Để giải quyết triệt để, TS. Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất triển khai hiệu quả Đề án “Phát triển công nghiệp giết mổ chế biến và thị trường sản phẩm chăn nuôi đến năm 2030”. Cần quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giết mổ, từng bước chuyển sang mô hình tập trung hiện đại gắn với chế biến và tiêu thụ. Bên cạnh đó, cần quy trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu chính quyền địa phương và kiểm soát chặt chẽ đầu vào sản phẩm tại các chợ, siêu thị. Khi thị trường loại bỏ các sản phẩm không rõ nguồn gốc, các cơ sở giết mổ chui sẽ tự động mất đầu ra.

Góp ý dưới góc độ doanh nghiệp, ông Đào Quang Vinh, Giám đốc Công ty CP Công nghệ thực phẩm Vinh Anh, cho rằng cơ quan quản lý không nên áp dụng một phương thức kiểm tra cào bằng cho mọi cơ sở và lô hàng.

Đối với các đơn vị nằm trong chuỗi cung ứng an toàn, có lịch sử tuân thủ tốt, cần ưu tiên áp dụng cơ chế quản lý thuận lợi. Ngược lại, cơ sở có nguy cơ cao hoặc vi phạm nhiều lần phải tăng tần suất giám sát. Việc vận chuyển, giết mổ thường diễn ra vào đêm muộn hoặc rạng sáng; do đó, việc kết hợp giữa tự kiểm soát của doanh nghiệp, truy xuất nguồn gốc và hậu kiểm dựa trên dữ liệu là giải pháp tối ưu giúp giảm chi phí tuân thủ.

Liên quan đến quy trình kỹ thuật xét nghiệm, đại diện các doanh nghiệp đề nghị không nên áp dụng tư duy "một kết quả dương tính, xử lý cả lô". Việc đánh giá tình trạng dịch bệnh cần kết hợp giữa kiểm tra lâm sàng, bệnh tích, lịch sử dịch tễ và hồ sơ liên quan, đặc biệt trong bối cảnh vắc xin cúm gia cầm đang được sử dụng rộng rãi.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Văn Điệp, Tổng Giám đốc Công ty AVAC, nhấn mạnh Dự thảo Thông tư cần làm rõ ranh giới giữa kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y và kiểm soát an toàn thực phẩm theo nguyên tắc "một nội dung – một đầu mối trách nhiệm". Đối với Bệnh dịch tả lợn châu Phi (ASF) – căn bệnh không lây sang người – các biện pháp xử lý sản phẩm cần được xem xét linh hoạt dựa trên đánh giá rủi ro dịch bệnh thay vì áp dụng cứng nhắc.

Các đại biểu thống nhất rằng truy xuất nguồn gốc là công cụ cốt lõi để minh bạch hóa chuỗi giá trị chăn nuôi. Tuy nhiên, việc áp dụng cần có lộ trình từ 5–10 năm để các cơ sở sản xuất, nhất là khu vực nhỏ lẻ, kịp thích ứng và chuẩn hóa dữ liệu. Trước mắt, có thể nghiên cứu áp dụng mã truy xuất nội tỉnh đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa, đồng thời bắt buộc áp dụng hệ thống truy xuất điện tử đối với các chuỗi cung ứng lớn và xuất khẩu.

Đồng thời kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng hệ thống dữ liệu số liên thông giữa cơ quan quản lý, trang trại chăn nuôi, cơ sở giết mổ và kênh phân phối. Khi xảy ra sự cố, hệ thống này sẽ hỗ trợ khoanh vùng, truy xuất ngược/xuôi nhanh chóng, thay thế cho việc kiểm tra thủ công diện rộng.

Các chuyên gia khẳng định kiểm soát giết mổ hiện nay không chỉ là công tác kiểm tra tại cửa lò mổ, mà là một mắt xích quản trị an toàn thực phẩm xuyên suốt từ trang trại đến bàn ăn. Việc hoàn thiện Dự thảo Thông tư theo hướng quản lý theo nguy cơ, phân định rõ trách nhiệm và tăng cường chuyển đổi số sẽ tạo nền tảng vững chắc cho ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển hiện đại và bền vững.