(TACN) – Thực tiễn vận động của nền nông nghiệp Việt Nam trong suốt thập kỷ qua đã chứng minh một quy luật mang tính sống còn: Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ cao không còn là một giải pháp tình thế, một thứ trang sức để ứng phó với dịch bệnh hay các biến động thị trường ngắn hạn. Đó chính là chiếc “chìa khóa vàng”, là nền tảng cốt lõi để kiến tạo mối liên kết chuỗi giá trị, định hình thương hiệu và chuẩn hóa chất lượng nông sản trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.
Nhận thức rõ tính tất yếu đó, tỉnh Hưng Yên đã và đang thực hiện một cuộc cách mạng tư duy toàn diện. Địa phương đang từng bước bứt phá, quyết liệt đưa ngành chăn nuôi thoát khỏi lối mòn tự phát, nhỏ lẻ để vươn tới một hệ sinh thái chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững.

Chăn nuôi gà sử dụng đệm lót sinh học được nhiều hộ chăn nuôi đẩy mạnh áp dụng.
Nhìn lại bức tranh tổng thể của nông nghiệp Hưng Yên những năm gần đây, có thể thấy rõ một làn sóng chuyển dịch cơ cấu sản xuất vô cùng mạnh mẽ. Tư duy chăn nuôi manh mún, mang tính chất “ăn đong” dựa trên kinh nghiệm truyền thống đang dần bị đẩy lùi, nhường chỗ cho mô hình trang trại tập trung quy mô lớn, được quản trị bài bản. Tính đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh đã xây dựng được trên 3.400 trang trại, trong đó có hàng chục mô hình đạt quy mô công nghiệp quy mô lớn. Sự dũng cảm, mạnh dạn đầu tư của người nông dân vào khoa học kỹ thuật đã mang lại những “quả ngọt” kinh tế vượt trội, làm thay đổi căn bản diện mạo vùng nông thôn.
Tại phường Hồng Châu, trang trại nuôi lợn của anh Bùi Văn Dũng là một điển hình tiêu biểu cho tư duy quản trị mới. Nằm tách biệt hoàn toàn với khu dân cư để đảm bảo an toàn dịch tễ, trang trại được vận hành theo quy trình khép kín nghiêm ngặt: từ hệ thống máng ăn tự động, quạt thông gió khử mùi thông minh cho đến việc ứng dụng chế phẩm vi sinh nhằm kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên cho vật nuôi. Với quy mô thường xuyên duy trì hơn 1.000 lợn nái và lợn thịt đạt tiêu chuẩn VietGAP, mô hình này nói không với việc lạm dụng kháng sinh, mang về doanh thu vượt trội trên 3 tỷ đồng mỗi năm.
Một minh chứng đắt giá khác cho xu hướng nông nghiệp tuần hoàn là trang trại của ông Phạm Văn Mạnh tại xã Vũ Tiên với quy mô 100.000 con gà thịt. Bằng việc sử dụng men vi sinh làm đệm lót sinh học, trang trại đã giải quyết triệt để bài toán chất thải hữu cơ tại chỗ, tiêu diệt mầm bệnh và triệt tiêu mùi hôi một cách tối đa. Phương pháp này giúp vật nuôi sinh trưởng nhanh, giảm từ 10% đến 15% lượng thức ăn tiêu tốn so với phương thức truyền thống, đồng thời cung cấp nguồn phân bón hữu cơ dồi dào, an toàn cho các vùng chuyên canh cây trồng xung quanh.

Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học không chỉ nâng cao thu nhập mà còn góp phần bảo vệ môi trường.
Theo báo cáo từ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2021-2025, ngành chăn nuôi địa phương đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm. Đến năm 2025, giá trị sản xuất toàn ngành đạt tới 18.759 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 49,52% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Con số này là minh chứng khẳng định chăn nuôi tiếp tục giữ vững vai trò là bệ đỡ, là động lực cốt lõi thúc đẩy kinh tế nông nghiệp của địa phương.
Để duy trì đà tăng trưởng và tăng cường khả năng chống chịu trước những biến động khó lường của thị trường, Hưng Yên xác định liên kết chuỗi giá trị chính là cấu trúc xương sống của nền chăn nuôi hiện đại. Mối liên kết này được hình thành dựa trên trục tọa độ: Nhà nước quy hoạch – Doanh nghiệp dẫn dắt – Hợp tác xã kết nối – Nông dân sản xuất.
Hiện nay, toàn tỉnh đã hình thành được 1 hiệp hội ngành hàng, 55 hợp tác xã (HTX) cùng sự đồng hành chiến lược của các tập đoàn nông nghiệp hàng đầu như CP, CJ, Mavin, Japfa, Hòa Phát và Dabaco. Trong chuỗi liên kết này, các doanh nghiệp lớn đóng vai trò hạt nhân, chịu trách nhiệm cung ứng con giống chất lượng cao, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y chuẩn hóa và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra. Ở chiều ngược lại, người chăn nuôi tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng chuồng trại và vận hành sản xuất theo quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt.
Sự xuất hiện của các HTX và tổ hợp tác đóng vai trò là cầu nối quan trọng, giúp các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ liên kết lại để mua chung vật tư đầu vào với giá ưu đãi, đồng bộ hóa quy trình kỹ thuật từ VietGAHP đến tự động hóa, tạo ra sản lượng đủ lớn để nâng cao năng lực đàm phán thương mại. Nhiều mô hình kinh tế tập thể tiêu biểu đã khẳng định được vị thế vượt trội. Điển hình như HTX Đông Xuyên, với quy mô đàn lên tới 4.500 con vịt sinh sản và 45.000 vịt thương phẩm, xuất sắc sở hữu 2 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao. Tổ hợp tác Thoa Tuyết luôn duy trì đàn gà đẻ 100.000 con ổn định, cung ứng ra thị trường khoảng 1,095 triệu quả trứng mỗi năm, giúp thu nhập của các thành viên tăng từ 10% đến 15%. HTX Bách Hồng và HTX Nguyễn Gia: Đi đầu trong việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng với hệ thống chuồng lạnh, camera giám sát 24/7 và máy cho ăn tự động, giúp tối ưu hóa chi phí vận hành ở mức thấp nhất.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 25 cơ sở đạt chứng nhận VietGAHP, 25 cơ sở an toàn dịch bệnh và 32 sản phẩm chăn nuôi đạt chứng nhận OCOP, tạo dựng lòng tin vững chắc nơi người tiêu dùng và khẳng định vị thế của nông sản Hưng Yên trên thị trường.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, song để hướng tới sự bền vững dài hạn, cần thẳng thắn nhìn nhận vào những điểm nghẽn, những nút thắt nội tại đang kìm hãm đà phát triển của chăn nuôi Hưng Yên. Đó là: Tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ, xen kẽ trong các khu dân cư vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Điều này không chỉ gây áp lực nặng nề lên môi trường sống mà còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh do không đảm bảo khoảng cách an toàn sinh học.
Ngoài ra, diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan, dị biệt khiến áp lực dịch bệnh luôn ở mức cao. Các dịch bệnh nguy hiểm như dịch tả lợn châu Phi, cúm gia cầm, viêm da nổi cục luôn chực chờ bùng phát, đe dọa trực tiếp đến thành quả sản xuất của người dân.
Bên cạnh đó, quỹ đất dành cho phát triển chăn nuôi tập trung hiện tại còn khá hạn chế, mới chỉ có 26 xã được quy hoạch với diện tích khoảng 974,8 ha. Thêm vào đó, giá thức ăn chăn nuôi và vật tư đầu vào liên tục biến động, phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế, khiến biên độ lợi nhuận của người chăn nuôi bị thu hẹp đáng kể.
Việc ứng dụng thương mại điện tử, số hóa trong quản lý đàn và kết nối tiêu thụ nông sản mới chỉ ở bước khởi đầu mang tính thử nghiệm, chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.
Để hóa giải các thách thức nói trên, Kế hoạch phát triển sản xuất chăn nuôi tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030 đã vạch ra một lộ trình bài bản, mang tính đột phá mạnh mẽ. Mục tiêu cốt lõi đến năm 2030 là đưa tỷ lệ chăn nuôi sử dụng giống cao sản, quy mô trang trại công nghiệp đạt trên 50% đối với lợn, trên 45% đối với gà và trên 25% đối với thủy cầm; đồng thời có khoảng 70% trang trại quy mô vừa và lớn ứng dụng trang thiết bị hiện đại, công nghệ chuồng kín.
Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược này, Hưng Yên sẽ tập trung vào ba nhóm giải pháp mũi nhọn:
Thứ nhất: Tái cơ cấu không gian chăn nuôi sâu sắc
Quyết liệt thực hiện lộ trình giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, đẩy mạnh di dời các cơ sở chăn nuôi vào các vùng quy hoạch tập trung. Song song với đó là quy hoạch lại mạng lưới giết mổ tập trung, ban hành các cơ chế thông thoáng nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển chuỗi cung ứng thịt mát theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai: Đẩy mạnh công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn theo quy trình 4F
Nâng tầm quy trình chăn nuôi sinh học, an toàn dịch bệnh gắn liền với mô hình kinh tế tuần hoàn 4F (Farm – Food – Feed – Fertilizer / Trang trại – Thực phẩm – Thức ăn – Phân bón). Tận dụng tối đa phụ phẩm, chất thải chăn nuôi để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và phát triển hệ thống biogas năng lượng sạch. Giải pháp này hướng tới mục tiêu kép: vừa giảm phát thải khí nhà kính, tiệm cận mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), vừa chuẩn bị năng lực để tham gia vào thị trường tín chỉ carbon đầy tiềm năng trong tương lai.
Thứ ba: Tạo bước đột phá bằng chuyển đổi số toàn diện
Khẩn trương xây dựng và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu số ngành chăn nuôi. Ứng dụng công nghệ IoT và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc giám sát tiểu khí hậu chuồng nuôi, tự động hóa quy trình chăm sóc và đưa ra các cảnh báo dịch bệnh sớm. Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (QR code) xuyên suốt từ khâu con giống, thức ăn, quá trình nuôi cho đến sản phẩm cuối cùng khi tới tay người tiêu dùng, đảm bảo tính minh bạch tối đa.
Với một lộ trình bài bản, tư duy quản lý mang tính chiến lược vững chắc, cùng sự đồng lòng phối hợp giữa người chăn nuôi, cộng đồng doanh nghiệp và hệ thống chính sách hỗ trợ thiết thực từ chính quyền, Hưng Yên hoàn toàn có quyền kỳ vọng và tự tin vào một ngành chăn nuôi hiện đại, an toàn, sinh thái. Đây sẽ là trụ cột vững chắc, đóng góp quan trọng vào bức tranh nông nghiệp xanh, bền vững của tỉnh trong tương lai gần.
Xuân Thủy


